Bài 71 nối rất sát với chương 70. Nếu chương 70 nói:
吾言甚易知,甚易行 — lời ta rất dễ biết, rất dễ làm, nhưng người đời lại không biết, không làm, thì chương 71 giải thích một nguyên nhân sâu hơn: biết rằng mình không biết mới là biết.
Đây là một trong những câu nổi tiếng nhất của Lão Tử:
知不知,上。
不知知,病。
Và tôi nghĩ nó đặc biệt đáng đối chiếu với điều bà vừa nói về “trí do duyên khởi nên vô trí.”
71. Nguyên văn
知不知,上;
不知知,病。
夫唯病病,是以不病。
聖人不病,以其病病,是以不病。
71.1. 「知不知,上」
Dịch:
Biết cái không biết — là cao.
Câu này rất nghịch lý.“Biết” cái gì?
不知 — không biết.
Tức biết giới hạn của cái biết của mình.
71.2. Nhưng không nên hiểu đơn giản là:“Tôi biết rằng tôi không biết gì.”
Nếu nói: Tôi chẳng biết gì cả, thì vẫn có thể là một kiến chấp.
Cái Lão Tử chỉ đến tinh tế hơn: cái biết phải biết giới hạn của chính nó.
71.3. Đây là một bước rất sâu từ chương 70.
Chương 70:
知我者希 Ít người hiểu ta.
Chương 71:
知不知 Người thật sự biết: biết rằng có những điều không thể bị cái biết thông thường nắm giữ.
71.4. 「不知知,病」
Không biết mà cứ tưởng mình biết — đó là bệnh.
Đây mới là đối cực mà Lão Tử phê bình.
Không phải không biết. Mà:Bkhông biết nhưng tưởng biết.
71.5 Hai câu đặt cạnh nhau:
知不知,上
biết cái không biết → cao.
不知知,病
không biết mà tưởng biết → bệnh.
Đây chính là: tri và chấp.
71.6 Tôi thấy điều này rất gần với câu bà nói:
“Chấp tức phá duyên khởi.”
Tại sao?
Vì khi ta nói “Tôi biết chắc chắn” ta đã biến một kinh nghiệm, một khái niệm, một hoàn cảnh duyên khởi thành một cái biết cố định.
71.7 Ví dụ rất đơn giản
Ta thấy mây. Kinh nghiệm ban đầu mây đang hiện.
Sau đó: “Mây là vô thường.” Sau đó: “Tôi hiểu vô thường.” Sau đó: “Tôi hiểu duyên khởi.” Rồi: “Tôi hiểu tánh khởi.”
Càng đi xa cái biết càng có nguy cơ biến thành vật để nắm.
Đến lúc ấy: 不知知,病.
71.8 Nhưng nếu dừng lại:
“Điều tôi đang thấy là thật, nhưng cái thấy của tôi không phải một tự thể độc lập thì:
知不知. Biết nhưng biết rằng cái biết cũng là duyên.
71.9 Đây chính là chỗ câu bà từng nói:
“Trí do duyên khởi nên vô trí.” có thể soi vào chương 71 rất đẹp.
Trí: khởi do duyên.
Cho nên: không có một “trí tự hữu” đứng ngoài duyên.
Biết mà không có cái biết tự tính.
Đó là một cách diễn đạt rất gần với:
知不知.
71.10 Tuy nhiên, có một khác biệt quan trọng.
Lão Tử đang nói sự khiêm cung của cái biết.
Trung Quán đi xa hơn:
không chỉ nói “tôi không biết hết”, mà khảo sát:
chính cái “biết” có tự tính hay không?
Cho nên không nên đồng nhất hai bên.
Nhưng có thể đặt chúng cạnh nhau để soi sáng.
71.11 「夫唯病病,是以不病」
Câu này rất đẹp.
Chỉ vì biết cái bệnh là bệnh, nên không bệnh.
Tức thấy rõ cái chấp biết là bệnh, thì không bị nó chi phối.
71.12 Lão Tử không nói: “hãy tiêu diệt cái bệnh.”
Mà 病病 nhận ra bệnh của chính cái bệnh.
Có một tầng phản tỉnh ở đây.
71.13 Điều này rất gần với “phản” mà chúng ta vừa gặp.
Chương 40:
反者道之動.
Chương 65:
與物反.
Chương 71:
病病.
Tức:
quay lại nhìn chính cái đang xảy ra.
Không chỉ biết một vật.
Mà biết cách mình đang biết vật ấy.
71.14 Đây là một điểm rất quan trọng đối với người học kinh luận.
Ta có thể nghiên cứu Trung Quán.
Nhưng phải có lúc quay lại hỏi:
“Ai đang muốn hiểu Trung Quán?”
Ta nghiên cứu tánh không.
Hỏi:
“Cái ‘tôi hiểu tánh không’ này có tự tính không?”
Ta nghiên cứu vô ngã.
Hỏi: “Cái người đang tuyên bố ‘vô ngã’ này là ai?”
Đó là: 病病.
71.15 Nhưng đừng biến nó thành một vòng tự phủ định vô tận.
Nếu cứ: “Ai biết?”
“Ai biết người biết?”
“Ai biết người biết người biết?”
thì lại thành: 智多.
Lão Tử không muốn chúng ta tạo thêm một mê cung khái niệm.
Mà chỉ:
thấy cái chấp đang sinh, rồi không nắm nó.
71.16 Đây lại quay về câu bà từng nói:
“Không phá không chấp là Trung đạo.”
Nếu ta nói:
“Tôi phải phá cái biết.”
thì:
lại chấp vào “không biết”.
Nếu nói:
“Tôi phải giữ cái biết.”
thì:
chấp vào biết.
Trung đạo:
biết mà không chấp biết.
71.17. 「聖人不病,以其病病,是以不病」
Bậc Thánh không bệnh, vì biết cái bệnh là bệnh, nên không bệnh.
Đây không phải nói bậc Thánh không bao giờ sai.
Mà: không bị cái sai của mình biến thành bản ngã.
Nếu nhận ra: “À, đây là chấp.” thì buông.
Không cần xây thêm một hệ thống để chứng minh rằng mình không chấp.
71.18 Đây chính là một điều tôi thấy rất đẹp trong cách bà đang đọc Đạo Đức Kinh.
Bà nhiều lần nói:
“Tôi không trụ vào kiến thức ”
Tôi nghĩ chương 71 thêm một chữ:
“không trụ vào cái biết mình không trụ.”
Đây mới là chỗ tinh tế.
Nếu: “Tôi là người không trụ,” thì một cái trụ mới đã xuất hiện.
71.19 Cũng vậy:
“Tôi đã thấy như thật.”
Có thể là kinh nghiệm rất sâu. Nhưng nếu:
“tôi” trở thành người sở hữu kinh nghiệm ấy,
thì kinh nghiệm đã biến thành sở đắc.
Đó là: 不知知.
71.20 Và nếu:
“Cái thấy này cũng duyên khởi; tôi không cần giữ nó.” thì 知不知.
71.21 Tôi nghĩ đây cũng là một chìa khóa để hiểu câu bà từng viết:
“Mới hay không có dòng đời để quên.”
Câu ấy không phải một kết luận để nắm giữ.
Nó là một cái thấy phá chính cái khung mà trước đó ta dùng để hiểu “dòng đời”.
Nhưng nếu sau đó nói:“Tôi đã tìm ra chân lý: không có dòng đời,”thì lại dựng một kiến chấp mới.
71.22 Cho nên:
知不知
có thể được đọc như:
thấy được mà không biến cái thấy thành chỗ đứng.
Đây rất gần với:
“thấy mà không thấy.”
mà bà đã nói trước đây.
71.23 “Thấy mà không thấy” không có nghĩa không có cái thấy.
Mà cái thấy không tự dựng mình thành một chủ thể đứng ngoài cái được thấy.
Đây là một phân biệt rất quan trọng.
71.24 Và tôi nghĩ chương 71 còn nối với chương 70 theo một đường rất đẹp:
Bên ngoài giản dị, bên trong có ngọc.
Bên ngoài có thể nói:
“ta biết.”
Nhưng bên trong
không tự chấp cái biết ấy.
71.25 Nếu gom hai chương:
70 — đừng phô ngọc.
71 — đừng phô cái biết.
Người thật sự có ngọc không cần khoe ngọc.
Người thật sự biết không cần chứng minh mình biết.
71.26 Và đây là chỗ tôi nghĩ chương 71 rất đẹp khi đặt cạnh Thiên Thai.
Thiên Thai nói:
一心三觀
Không phải có ba vật để ta lần lượt nắm.
Mà Không, Giả, Trung soi chiếu lẫn nhau.
Nếu ta chấp “Tôi đã đứng ở Trung,” thì Trung cũng thành một kiến chấp.
Cho nên biết mà không trụ vào cái biết Trung.
71.27 Cũng giống như “tánh khởi”. Nếu bà nói: “Tánh khởi” như một lời chỉ hướng, thì nó rất sống. Nhưng nếu biến thành: “Tánh khởi là bản thể tối hậu nằm phía sau vạn pháp,” thì đã dựng một nền tảng.
Và bà đã nhiều lần nói rất rõ: không muốn dựng nền tảng.
Chương 71 giúp ta hiểu tại sao: cái biết phải biết chính giới hạn của nó.
71.28 Vì vậy tôi sẽ tạm diễn đạt chương 71 bằng ngôn ngữ gần với cuộc trò chuyện của chúng ta:
Biết rằng cái biết cũng do duyên khởi — đó là biết.
Không biết mà chấp cái biết của mình là tự tính — đó là bệnh.
Thấy được cái chấp ấy mà không cần dựng thêm một cái “ta” để chữa nó — đó là không bệnh.
Đây không phải bản dịch của Lão Tử; đó là cách tôi đối chiếu chương 71 với những điều bà đã khai triển.
71.29 Một điểm cuối tôi rất muốn giữ lại.
Chương 71 không khuyên:
“hãy trở thành người không biết.”
Mà:
hãy trở thành người không bị cái biết của mình trói.
Đó là khác biệt giữa vô tri và 知不知.
Và nếu nối với câu bà nói:
“Thấy như thật là nhập mà không nhập, thấy mà không thấy...”
thì tôi nghĩ chương 71 như đang khẽ nhắc:
Ngay cả cái thấy như thật cũng không nên biến thành một sở đắc của người thấy.
Thấy thì cứ thấy.
Biết cứ biết.
Hiện tướng cứ hiện.
Nhưng:
không dựng một “người biết” đứng ngoài để sở hữu cái biết ấy.
Đó là chỗ “知不知” trở nên rất gần với “vô đắc” mà bà đã nói.
Bình Luận Bài Viết