Bài 15「萬物齊一」và câu “Thiên địa dữ ngã tịnh sinh, nhi vạn vật dữ ngã vi nhất”.
1. Câu nổi tiếng của Trang Tử
Trong thiên Tề Vật Luận:
天地與我並生,而萬物與我為一。
Thiên địa dữ ngã tịnh sinh, nhi vạn vật dữ ngã vi nhất.
Trời đất cùng ta đồng thời sinh khởi, mà vạn vật cùng ta làm một.
Đây là một trong những câu đẹp nhất của Trang Tử.
2. 「並生」— Tịnh sinh
Hai chữ:
並生
rất đáng chú ý.
Không phải: “Ta sinh ra trời đất.” Cũng không phải: “Trời đất sinh ra ta.”
Mà:
Thiên địa và ta cùng sinh.
Đây là một cách phá cái nhìn: chủ thể đứng bên ngoài thế giới để quan sát thế giới. Không còn:
ta ở đây và thế giới ở kia.
3. 「與我為一」— Dữ ngã vi nhất
萬物與我為一
Vạn vật cùng ta làm một.
Đây không nhất thiết có nghĩa tất cả vạn vật hợp lại thành một “bản thể”.
Nó có thể được đọc theo chiều:
ranh giới tuyệt đối giữa ta và vạn vật không còn được duy trì như trước.
Tức ta không phải một người quan sát hoàn toàn đứng ngoài thế giới.
4. Đây chính là 「齊物」— Tề Vật
Tên thiên:
齊物論 Tề Vật Luận.
Có thể hiểu:
Luận về sự bình đẳng / đồng nhất của vạn vật.
Nhưng “tề” không phải mọi vật giống hệt nhau. Một cái chén vẫn khác cái ly. Người vẫn khác cây. Cây vẫn khác nước.
Mà:
không có một vị trí tuyệt đối từ đó ta có thể nói vật này tự nó cao hơn, vật kia tự nó thấp hơn.
5. Đây là chỗ rất gần điều bà nói về “Trung đạo”. Bà nói:
“Tôi nhìn tất cả việc lớn nhỏ, từ cái chén, ly nước cho đến các đại hiền nhân, thánh giả... đều là Trung đạo.”
Tôi thấy Tề Vật của Trang Tử có một sự cộng hưởng rất đẹp với trực giác ấy.
Bởi vì cái chén không tự nó là “thấp”, thánh giả không tự là “cao”. Những giá trị ấy xuất hiện trong: quan hệ, hoàn cảnh, cách nhìn, công dụng, duyên khởi.
6. Nhưng đây chưa phải Trung đạo của Long Thọ. Đây là điểm phải giữ thật rõ.
Trang Tử:
齊物
phá sự phân biệt tuyệt đối giữa các sự vật.
Long Thọ:
中道
phá sự chấp vào tự tính của các pháp.
Hai bên có thể gặp nhau ở không cố định hóa một bên. Nhưng nền tảng lý luận khác nhau.
7. Long Thọ sẽ đi xa hơn. Nếu nói “Vạn vật là một.” Long Thọ sẽ hỏi: “Một” có tự tính không?
Nếu “Một” tự tồn thì nó trở thành một bản thể.
Nếu “Một” cũng do duyên thì “Một” cũng là Không.
Vì vậy:
Trung đạo không phải lấy “Một” thay cho “Nhiều”.
Đây là điểm rất quan trọng.
8. Vì vậy 「一」của Trang Tử không nên biến thành “Nhất thể luận”
Nếu đọc:
萬物與我為一
rồi kết luận:
“Trang Tử chủ trương tất cả vạn vật là một bản thể duy nhất”, thì đã làm tư tưởng Trang Tử cứng lại.
Trang Tử thường cố tình làm cho các phạm trù: Có / Không, Ta / Vật, Đúng / Sai, Lớn / Nhỏ, Sinh / Tử
không còn đứng yên như những khối tuyệt đối.
9. Đây chính là lý do thị phi「是非」trong Tề Vật Luận rất quan trọng.
Trang Tử viết:
彼亦一是非,此亦一是非。
Bỉ diệc nhất thị phi, thử diệc nhất thị phi.
Có thể dịch:
Bên kia cũng có cái “đúng–sai” của bên kia; bên này cũng có cái “đúng–sai” của bên này.
Đây không phải không có đúng sai. Mà là:
mỗi lập trường có hệ thống phán đoán của nó.
10. Đây nối rất đẹp với điều bà nói về “im lặng”:
“Phán xét chắc chắn đưa đến sai lầm và nâng cao tự ngã mặc dù có thể cần trong một phạm vi giới hạn.”
Trang Tử có một trực giác tương tự: người ta thường lấy cái nhìn của mình làm tiêu chuẩn của toàn thể.
Nhưng cái “đúng” của ta cũng đứng trong một vị trí.
Cho nên:
đừng vội biến cái thấy của mình thành chân lý tuyệt đối.
Đây là một bài học rất sâu về:
khiêm cung nhận thức.
11. Nhưng Phật giáo vẫn giữ Tục đế.
Đây là điểm Thiên Thai rất đẹp. Không thể nói vì mọi thứ là duyên khởi nên không có đúng sai.
Tục đế vẫn có thiện / ác, đúng / sai, nhân / quả.
Chân đế thì tất cả đều không tự tính.
Và:
Trung đạo không phải đứng về một bên.
12. Đây chính là chỗ câu bà nói trước đây rất sâu. Bà nói:
“Căn trần thức chính là Tánh khởi.”
Nếu đem vào cấu trúc Thiên Thai mà bà vừa xây dựng: Căn–trần–thức là:
Giả vì có hiện tướng duyên khởi.
nếu hiểu là không tự tính.
vì Không không nằm ngoài Giả.
Đây chính là tức Không tức Giả tức Trung.
即空即假即中.
13. Bây giờ ta có thể thấy một nét tương đồng với Trang Tử.
Trang Tử nói:
天地與我並生
Không đặt ta và thế giới thành hai thực thể độc lập tuyệt đối.
Khi nói:
căn–trần–thức chính là Tánh khởi.
Bà cũng không đặt căn, trần, thức, tánh thành những thực thể độc lập.
Đây là một sự tương đồng về cách nhìn quan hệ.
Nhưng Phật giáo đi xa hơn bằng:
Không tính.
14. Một ví dụ rất đơn giản: cái ly
Bà nói: từ cái chén, ly nước...
Nếu nhìn theo cách thông thường: “Đây là cái ly.” Nhưng cái ly có phải tự nó là “ly” không?
Nó cần đất, nước, lửa, người làm, hình dáng, công dụng, người sử dụng, tên gọi, nhận thức... Tất cả cùng duyên.
Cho nên:
ly là duyên khởi.
Nhưng duyên khởi không làm cái ly biến mất. Đây chính là:
Giả mà tức Không.
15. Và nếu ta nói “cái ly là Không” cũng chưa đủ. Bởi vì:
Không không phải một vật nằm bên ngoài cái ly.
Không chính là:
cái ly không có tự tính.
Đây là chỗ Trung đạo rất khác với việc nói:“mọi thứ đều là một.”
16. Vì vậy tôi sẽ diễn đạt sự khác nhau như sau:
萬物與我為一
Vạn vật cùng ta làm một. Trọng tâm:
phá ranh giới chủ thể–đối tượng.
因緣所生法,我說即是空
Các pháp do duyên sinh, ta nói tức là Không. Trọng tâm:
phá tự tính của chủ thể và đối tượng.
即空即假即中. Trọng tâm:
ngay nơi hiện tướng duyên khởi mà Không–Giả–Trung viên dung.
Ba cách nhìn rất gần nhau ở một số điểm, nhưng không phải một.
17. Một điểm nữa của Trang Tử rất đáng chú ý. Ông viết:
方生方死,方死方生。
Phương sinh phương tử, phương tử phương sinh.
Có thể hiểu:
Đang sinh thì đồng thời đã ở trong dòng biến đổi dẫn đến tử; đang tử thì lại là một chuyển tiếp của sinh.
Trang Tử không nhìn sinh và tử như hai khối hoàn toàn tách biệt.
Đây là tư tưởng:
biến hóa 化.
18. Chữ 化 Hóa là một chữ rất quan trọng của Trang Tử.
Vạn vật 化 luôn biến hóa. Không có một hình thái nào đứng yên mãi. Đây lại tạo một điểm gặp với:
duyên khởi.
Nhưng Phật giáo hỏi thêm: cái gì trong quá trình biến hóa có tự tính?
Câu trả lời:
không có pháp nào tự tính.
Đây là bước mà Trung quán đi sâu hơn.
19. Và bây giờ tôi nghĩ ta có thể hiểu tại sao bà cảm thấy “mọi thứ đều là Trung đạo”.
Nếu bà nhìn cái chén, ly nước, người bình thường, hiền nhân, thánh giả, thì mỗi cái đều: đang hiện hữu.
Đó là:
Giả.
Nhưng mỗi cái đều:
do duyên mà hiện, không tự tính.
Đó là:
Không.
Và Không không phá mất cái đang hiện:
Trung.
Cho nên:
không cần tìm Trung đạo ở một nơi khác.
Ngay:
cái ly đã là Không–Giả–Trung.
Ngay:
một tiếng nghe được.
đã là Không–Giả–Trung.
Ngay một ý niệm
cũng vậy.
20. Đây nối thẳng với “Tánh khởi”:
Nếu nói: Tánh khởi thì chữ “khởi” rất quan trọng.
Không phải Tánh nằm phía sau rồi thỉnh thoảng phát ra vạn pháp. Mà: ngay nơi sự khởi hiện của pháp, Không–Giả–Trung đồng thời đầy đủ.
Cho nên:
căn khởi, trần khởi, thức khởi.
không phải ba thứ đứng ngoài Tánh.
Chúng chính là:
Tánh khởi.
Nếu ngay đó: nghe mà không chạy theo, thấy mà không chạy theo,
thì không cần:
tiêu diệt căn, tiêu diệt trần, tiêu diệt thức.
Đây là chỗ câu bà nói:
“ngay nơi căn trần thức vốn không có sự trói buộc để có thể trói buộc người”
trở nên rất rõ.
Bài 16 tiếp theo:「化」: Hóa và 「物化」: Vật hóa
Từ đây ta nên đi sâu vào chữ 化 của Trang Tử.
Đặc biệt câu:
昔者莊周夢為胡蝶,栩栩然胡蝶也。
Tích giả Trang Chu mộng vi hồ điệp, hủ hủ nhiên hồ điệp dã.
Xưa Trang Chu mộng làm bướm, vui vẻ như một con bướm thực sự.
Rồi:
不知周之夢為胡蝶與,胡蝶之夢為周與。
Bất tri Chu chi mộng vi hồ điệp dữ, hồ điệp chi mộng vi Chu dữ.
Không biết Trang Chu mộng làm bướm, hay bướm mộng làm Trang Chu.
Đây sẽ đưa chúng ta đến một vấn đề rất gần với điều bà đang suy nghĩ về “năng–sở”, “quán–cảnh”, và Tánh khởi:
Nếu không còn một chủ thể cố định, thì ai là người quán và cái gì là sở quán?
Đó sẽ là bước 16.
Bình Luận Bài Viết