Hai vị Phật này khác nhau như thế nào? Hãy cùng học cách phân biệt Phật A Di Đà và Phật Thích Ca sao cho đúng để không bị nhầm lẫn.
Phật Thích Ca là ai?
Phật Thích Ca Mâu Ni là người sáng lập ra đạo Phật. Ngài được xác nhận là có thật trong lịch sử: là hoàng tử Tất Đạt Đa Cồ Đàm của vương quốc Thích Ca - thuộc Ấn Độ ngày nay, sinh vào khoảng năm 624 TCN. Sau khi nhìn thấy cảnh khổ đau của những người già, bệnh tật và qua đời cùng vẻ ung dung thanh thản của 1 vị tu sĩ, thái tử Tất Đạt Đa phát tâm rời khỏi hoàng cung, tu học Phật quả.
Phật Thích Ca là giáo chủ cõi Ta bà (đau khổ) – là thế giới mà chúng ta đang sống
Phật A Di Đà là ai?
Phật A Di Đà là vị Phật được tôn thờ nhiều nhất trong Phật giáo Đại thừa. Tương truyền Ngài vốn là một vị vua, sau khi nghe đức Đại Nhật Như Lai (Tiền kiếp Phật Thích Ca) thuyết pháp thì lập tức giác ngộ và từ bỏ ngai vàng, xuất gia tu chứng thành Phật quả, gọi là Phật A Di Ðà. Tên của Ngài nghĩa là Vô Lượng Thọ - nghĩa là thọ mệnh vô lượng và Vô Lượng Quang – ánh sáng vô lượng.
Phật A Di Đà cai quản cõi Cực Lạc (an vui) ở phương Tây. Ngài có nhân duyên hóa độ chúng sinh ở thế giới Tà ba này. Người được Phật A Di Đà cứu rỗi thì sẽ đến được Tây Phương Cực Lạc, tức là đã ra khỏi luân hồi
Phân biệt tôn tượng/tranh vẽ Phật A Di Đà và Phật Thích Ca
Phật A Di Đà
Hình dáng đặc trưng: Phật A Di Đà trên đầu có các cụm tóc xoắn ốc, mắt nhìn xuống, miệng thoáng nụ cười cảm thông cứu độ, khoác trên người áo cà sa màu đỏ (tượng trưng cho màu mặt trời lặn phương Tây), áo có thể khoát vuông ở cổ, trước ngực có chữ “vạn”.
Tư thế tay: Phật A Di Đà có thể trong tư thế đứng, tay làm ấn giáo hóa - tức là tay mặt đưa ngang vai, chỉ lên, tay trái đưa ngang bụng, chỉ xuống, hai lòng bàn tay hướng về phía trước; trong mỗi tay, ngón trỏ và ngón cái chạm nhau làm thành vòng tròn.
Đây là tượng Ushiku Daibatsu ở Nhật Bản. Bức tượng mô tả Phật A Di Đà đang làm ấn giáo hóa, sẵn sàng cứu giúp chúng sinh đang trong bể khổ
Phật A Di Đà cũng có thể ngồi kiết già trên tòa sen, tay bắt ấn thiền (tay để ngang bụng, lưng bàn tay phải nằm chồng lên lòng bàn tay trái, hai ngón cái chạm nhau). Trên tay Phật có thể giữ một cái bát, là dấu hiệu cho giáo chủ.
Phật A Di Đà trong tư thế ngồi kiết già trên tòa sen, tay bắt ấn thiền
Một dạng khác của ấn thiền ở tượng Phật A Di Đà là các ngón tay giữa, ngón đeo nhẫn và ngón út của hai bàn tay nằm lên nhau, ngón cái và ngón trỏ mỗi tay tạo thành hai vòng tròn chạm nhau. Vì thế, ấn này còn gọi là Ấn thiền A Di Đà.
Ấn thiền A Di Đà ở tượng Kamakura Daibutsu tại Nhật Bản
Nhân vật đi kèm: Phật A Di Đà thường được minh họa cùng hai vị Bồ Tát là Quán Thế Âm (bên trái, cầm cành dương và bình nước cam lộ) và Đại Thế Chí (bên phải, cầm bông sen xanh).
Phật A Di Đà và hai vị bồ tát
Phật Thích Ca
Hình dáng đặc trưng: Tóc Phật Thích Ca có thể búi tó hoặc có các cụm xoắn ốc. Phật Thích Ca mặc áo cà sa hoặc áo choàng qua cổ màu vàng hoặc nâu, nếu có hở ngực thì trước ngực không có chữ "vạn". Phật có thể ngồi trên tòa sen, nhục kế trên đỉnh đầu, đôi mắt mở ba phần tư.
Tư thế tay: Tay tượng Phật Thích Ca có thể xếp ngay ngắn trên đùi, hai bàn tay bắt ấn thiền, ấn chuyển pháp luân hoặc ấn kim cương hiệp chưởng... Phật cũng có thể cầm một chiếc bát màu đen hoặc xanh đen, dấu hiệu cho giáo chủ.
Tay Phật Thích Ca ở ấn xúc địa - tay trái hướng lên, đặt ngang bụng, tay mặt chỉ xuống, lưng tay mặt xoay tới trước. Trên tay trái của Phật là một chiếc bát
Tượng Phật Thích Ca Mâu Ni thủ ấn vô úy - tay mặt đặt ngang tầm vai, các ngón tay hướng về phía trước
Tay Phật Thích Ca trong tượng này đang làm ấn chuyển pháp luân, tức là tay trái hướng vào thân, tay mặt hướng ra; trong mỗi tay, ngón trỏ và ngón cái chạm nhau thành vòng tròn, hai vòng tròn đó chạm nhau
Phật Thích Ca thủ ấn kim hiệp chưởng, với đầu ngón tay của hai bàn tay chắp vào nhau, biểu hiện cho tín tâm bất động, vững chắc như kim cương
Các nhân vật đi kèm: Phật Thích Ca Mầu Ni có thể được minh họa cùng hai vị tôn giả là Ca Diếp (vẻ mặt già, bên trái) và A Nan Đà (vẻ mặt trẻ, bên phải). Đây là hai đại đệ tử của Phật Thích Ca khi ngài còn ở thế gian.
Tượng Phật Thích Ca cùng 2 vị đệ tử
Ngoài ra còn có tôn tượng và tranh vẽ Phật Thích Ca sơ sinh - một tay chỉ thiên, một tay chỉ địa; và Phật Thích Ca nhập diệt - nằm nghiêng mình sang phải.
Tranh vẽ Phật Thích Ca sơ sinh
Tượng Phật Thích Ca nhập diệt (bên dưới)
Lam Lan/giadinhonline
VỊ TRÍ - PHẬT TỔ THÍCH CA MÂU NI và A DI ĐÀ trong các KINH
- THÍCH CA trong Thánh Điển Pali ( Đại Tạng Kinh Nikaya Pali ) là ngôi vị CAO TUYỆT ĐỐI và DUY NHẤT. Kinh này không công nhận có A Di Đà.
- THÍCH CA trong Kim Cương Thừa - Mạn Đà La ( biểu thị vũ trụ ) của Mật giáo là ngôi vị trung tôn Chủ Tể chư Phật trong vũ trụ với pháp thân là Đại Nhật Như Lai và bốn phía Đại Nhật có 4 vị Phật thành viên gồm: A Di Đà, Bảo Tràng, Thiên Cổ Lôi Âm, Khai Phu Hoa Vương các vị này làm trợ lý cho THÍCH CA để phụ giúp THÍCH CA giáo hóa độ sinh.
- THÍCH CA trong Đại Kinh Hoa Nghiêm là CHÂN LÝ TUYỆT ĐỐI, là Chủ Tể chư Phật trong Hoàn vũ. Không có vị Phật nào trong mười phương kể cả A DI ĐÀ mà có thể rời khỏi Pháp giới tạng thân của THÍCH CA MÂU NI vì pháp thân Phật THÍCH CA bao trùm cả pháp giới.
- A DI ĐÀ trong Kinh Vô Lượng Thọ có quang minh chiếu đến hằng sa của mười phương thế giới chư Phật, thì trong Kinh Ma Ha Bát Nhã Ba La Mật Phật THÍCH CA có quang minh từ các lỗ chân lông Phật phóng ra khắp Tam Thiên Đại Thiên thế giới, rồi chiếu tiếp đến hằng sa thế của mười phương chư Phật, rồi từ đây quang minh lại chiếu VƯỢT QUA hằng sa thế giới khắp mười phương... nên chúng sanh nào ở thế giới mười phương gặp được quang minh này sẽ được Vô Thượng Chánh Đẳng Chánh Giác...không cần tu hay niệm Phật. THẦN LỰC của THÍCH CA làm chấn động đến mười phương Chư Phật khiến cho các Bồ tát làm Thị giả cho các Đức Phật ở mười phương phải xin phép các Đức Phật là Thầy của mình để cùng nhau đến thế giới Ta Bà để nghe ĐỨC THÍCH CA giảng Kinh Đại Bát Nhã
THÍCH CA trong Kinh Pháp Hoa là Phật tối cao trong Chư Phật có pháp thân là Đại Nhật Như Lai đã thành Phật ở vô lượng vô biên a tăng kỳ kiếp trước cả A DI ĐÀ. THÍCH CA đã thuyết ra Kinh Pháp Hoa và chính A DI ĐÀ nhờ dùng Kinh Pháp Hoa của THÍCH CA để đọc và giảng cho chúng sinh nghe ở tiền kiếp nên nhờ công ấy mà A DI ĐÀ được thành Phật ở thế giới Cực Lạc.
THÍCH CA trong KINH BI HOA đã khuyên chỉ dạy A DI ĐÀ và 3000 Chư Phật trong tiền kiếp muốn thành Phật phải phát Bồ Đề tâm thì mới cầu được đạo vô thượng... nên A DI ĐÀ và Chư Phật đã nghe lời chỉ dạy phát tâm Bồ Đề và cầu được đạo vô thượng. A DI ĐÀ phát 48 lời Đại Nguyện thành Phật về thế giới Cực Lạc. Còn THÍCH CA phát 500 Đại Nguyện thành Phật tối thượng về cõi Niết Bàn vô trụ.