Ngài Huệ Năng hiểu Ngũ Tổ muốn nói gì, nên đợi đến canh ba (12 giờ đêm), Ngài vào thất của Ngũ Tổ. Vừa thấy Huệ Năng vào, Ngũ Tổ lấy áo Cà Sa khoác vào cho, rồi đọc Kinh Kim Cang cho nghe. Khi Ngũ Tổ đọc tới chỗ: “Ưng vô sở trụ nhi sinh kỳ tâm”, đột nhiên ngài Huệ-Năng một lần nữa thấy đột sáng, biết cả thẩy các Pháp đều chẳng lià tánh mình, nên Ngài buột miệng thốt ra năm câu kệ:
Nào dè tính mình vốn không sinh diệt,
Nào dè tính mình vốn thanh tịnh trong sạch,
Nào dè tính mình vốn chứa đầy đủ muôn Pháp,
Nào dè tính mình vốn không dao động,
Nào dè tính mình vốn sinh ra muôn Pháp.
Ngũ Tổ biết Ngài đã tỏ sáng bản tính, nên nói:
– Nếu biết bản tâm thấy bản tính, tức gọi là Trượng phu, là Phật, là Thầy cõi Người và cõi Trời.
Sau đó Ngũ Tổ truyền Pháp, trao Bát cho Ngài, và nói:
– Ngươi làm Tổ thứ sáu kể từ nay, hãy gìn giữ và nhớ lấy đạo tâm của mình; phải quảng độ chúng sinh và lưu truyền cái chính Pháp cho đời sau, đừng để đoạn tuyệt; rồi Ngũ Tổ nói kệ:
Hữu tình được gieo giống,
Nhân gieo qủa ắt sinh,
Vô tình không có giống,
Vô tính cũng không sinh.
Ngũ Tổ căn dặn:
– Từ xưa Chư Phật chỉ truyền cái Bản lai là cội gốc của các Pháp; Áo Bát là cái mối tranh giành, tới đời ngươi đừng truyền nữa; thôi hãy đi đi cho chóng, kẻo có kẻ hại ngươi.
Bấy giờ đang đêm tối, không thuộc đường đi, nên ngài Huệ Năng hỏi Ngũ Tổ:
– Con nên đi đến xứ nào, và đêm tối thế này con không thông thuộc đường đi quanh đây, làm sao con ra khỏi nơi này mà đi?
Ngũ Tổ nói:
– Chẳng cần lo, để ta dẫn ngươi; khi gặp Hoài (huyện Hoài) nên ở lại, gặp Hội (Huyện Tứ Hội) phải ẩn nương nơi đó.
Rồi Ngũ Tổ dẫn Ngài đi đến chỗ neo (cột) thuyền và bảo lên thuyền, Ngũ Tổ đích thân chèo thuyền đưa Ngài đến trạm Cửu Giang; trước khi từ biệt, Ngũ Tổ nói:
– Từ nay về sau, Phật Pháp do ngươi truyền bá thịnh hành; ngươi đi rồi, ba năm sau ta sẽ thị tịch (nhập diệt); ngươi hãy gắng sức đi về phương Nam, nhưng chẳng nên vội thuyết pháp, vì Phật Pháp khó mở mà phải tùy duyên, hãy nhớ lấy.
Ngũ Tổ trở về, mấy ngày sau chẳng ra giảng đường, các môn đồ thắc mắc bèn đến thăm và nói:
– Hòa Thượng có bệnh hay sao mà không thấy ra giảng đường?
Ngũ Tổ nói:
– Ta chẳng có bệnh chi, nhưng Áo Bát đã đi phương Nam, vì ta đã truyền Y Pháp cho Huệ Năng rồi.
Khi ấy mọi người mới biết việc Ngũ Tổ đã truyền Áo Pháp cho ngài Huệ Năng.
Trải qua hai tháng, ngài Huệ Năng đi bộ tới núi Đại du Lãnh; cũng lúc ấy có mấy trăm người vừa Tăng vừa tục đuổi theo Ngài, mong đoạt lấy Áo Bát.
Có một thầy Tăng tên là Huệ Minh, ngày trước làm chức Tứ phẩm Tướng quân, tính tình thô bạo, làm đầu chúng Tăng tục, quyết chí đuổi theo tìm Ngài cho kỳ được. Thầy Huệ Minh xông xáo đi trước và đuổi kịp, vừa trông thấy có người đuổi tới gần, ngài Huệ Năng để Áo Bát trên một tảng đá mà nói rằng:
– Áo Bát này là vật làm tin, há dùng sức mà tranh được sao?
Nói rồi, Ngài ẩn mình trong đám cỏ tranh gần đấy, thầy Huệ Minh vừa thoáng thấy bóng ngài Huệ Năng, vội vàng chạy đến thấy áo Cà Sa và Bình Bát ở trên tảng đá, mà chẳng thấy người đâu. Thầy Huệ Minh mừng rỡ, liền rảo bước tới lấy Áo Bát, nhưng không sao nhấc lên được, thật lạ thay!, Thầy Huệ Minh biết rằng ngài Huệ Năng đã đắc đạo có thần thông, nên thầy liền nói lớn lên rằng:
– Hành giả, Hành giả, tôi vì Pháp mà đến đây, chứ chẳng phải vì tranh Áo Bát đâu, xin Hành giả từ bi thương xót.
Nghe vậy, ngài Huệ Năng bước ra khỏi đám cỏ tranh, rồi ngồi trên tảng đá; thầy Huệ Minh liền làm lễ rồi nói:
– Mong ơn Hành giả nói Pháp cho tôi nghe.
Ngài Huệ Năng nói:
– Ông vì Pháp mà đến đây thì phải dứt hết duyên trần, chớ sinh một niệm tưởng, tôi sẽ nói rõ Phật Pháp cho ông nghe.
Lẳng lặng một lúc, đợi cho thầy Huệ Minh thi hành điều vừa nói, ngài Huệ Năng mới bảo:
– Ông chẳng nghĩ việc lành, không nghĩ điều ác, chính trong thời gian đó, cái ấy, tức là tỏ thấy cái Bản lai Diện mục của Thượng Tọa Minh vậy.
Thầy Huệ Minh vừa nghe xong liền rất tỏ sáng, lại hỏi:
– Ngoài các lời nói và ý chỉ mật nhiệm do trên truyền xuống từ xưa tới nay, còn có ý chỉ mật nhiệm nào nữa không?
Ngài Huệ Năng nói:
– Chỗ tôi nói với ông, đó chẳng phải là mật nhiệm; nếu ông trở soi vào trong tức hồi quang phản chiếu thì thấy chỗ mật nhiệm ở bên ông.
– Tôi tuy ở tại Hoàng Mai với Ngũ Tổ đã lâu, nhưng chưa hề xét biết cái Bản lai Diện mục của mình; nay nhờ sự chỉ dạy của Hành giả nên đã sáng tỏ, như người uống nước nóng lạnh tự biết tự mình hay; Hành giả nay tức là Thầy của Huệ Minh vậy.
– Nếu thế tôi cùng ông đồng thờ một Thầy là đức Hoàng Mai Ngũ Tổ; ông hãy giữ gìn và nhớ lấy đạo tâm của mình.
– Từ nay về sau Huệ Minh này phải đi xứ nào, xin Hành giả chỉ bảo cho.
– Ông đến Viên Châu nên ngừng lại, và gặp núi Mông Sơn phải ở đó.
Thầy Huệ Minh vui mừng phấn khởi, liền làm lễ Ngài rồi từ giã trở lui, xuống tới chân núi kêu bọn đồ chúng đang đuổi theo mà nói:
– Tôi kiếm cùng khắp các đường trên núi mà chẳng có dấu vết gì cả, chúng ta đi đường khác mà kiếm.
Mọi người đều cho là phải và kéo nhau theo đường khác tìm kiếm.
Sau ngài Huệ Năng về tới làng Tào Hầu thuộc Tỉnh Thiều Châu, dân chúng chẳng ai biết; lúc ấy có một nhà Nho tên Lưu chí Lược tình cờ gặp vànghe Ngài nói Phật Pháp suốt thông nên rất mực cung kính. Chí Lược có một người cô xuất gia pháp danh là Vô tận Tạng thường hay tụng Kinh Đại Niết Bàn mà nhiều chỗ chưa hiểu; Ni Cô Tận Tạng đọc qua một lần, Ngài nghe qua rồi liền hiểu hết diệu nghĩa của Kinh, mới giải nghĩa cho Ni Cô nghe. Ni Cô cầm Kinh hỏi chữ, Ngài nói:
– Hỏi nghĩa thì được, hỏi chữ thì chẳng biết.
Ni Cô nói:
– Chữ còn chẳng biết, làm sao hiểu nghĩa được?
Ngài trả lời:
– Diệu lý của Chư Phật chẳng dính gì với văn tự.
Trước sự đối đáp và giải thích diệu nghĩa của Ngài, Ni Cô rất ngạc nhiên và kính phục; Ni Cô nói với các bậc Kỳ lão trong thôn làng rằng: “Đây là người có Đạo, rất nên cúng dường”. Lúc ấy có dòng dõi của Ngụy Võ Hầu (Tào Tháo) tên Tào thúc Lương cùng với dân chúng trong thôn ấp thường tới hỏi đạo, thời ấy có một ngôi cổ Tự đã bị hư hỏng trong thời loạn ly vào cuối đời nhà Tùy; bấy giờ mọi người bảo nhau sửa chữa lại và mời Ngài ở đó. Tưởng rằng từ đấy ngài Huệ Năng dần dần gây dựng đường lối Phật Pháp, nào dè mới được khoảng chín tháng, lại có bọn ác nhân tìm đến, Ngài phải trốn vào rừng núi; lại bị bọn ấy đốt cháy núi rừng, Ngài phải ẩn thân nơi kẽ đá thoát nạn; nay còn dấu vết ngồi trên đá và dấu lằn áo trên đá, người đời gọi đá ấy là đá tị nạn.
Bấy giờ ngài Huệ Năng nhớ lời Ngũ Tổ dặn, bèn đến ẩn nương nơi Huyện Tứ Hội; tại nơi đây Ngài gặp và ở chung với những người thợ săn, họ thường bảo Ngài coi giữ lưới, nên khi thấy loài vật lọt vào lưới, Ngài thả ra hết. Ngài thường gửi rau luộc bên thịt, khi có người hỏi Ngài nói chỉ ăn rau thôi; Ngài thường vì các người thợ săn tùy duyên nói Phật pháp cho họ nghe.
Hình ảnh thêm về Ngài Huệ Năng Đại ngộ, lãnh Pháp, Y Bát, và trốn (lánh) nạn.