Đỗ Ngọc Giao
14-Jun-2022
‘Con giáp’ (zodiac animals) là những con vật mà dân gian ở một số nơi gắn với mười hai năm, với niềm tin rằng ai đẻ ra trong năm con trâu thì có tánh thiệt thà (honest), cần cù (diligent), đáng tin (dependable), nhẫn nại (patient), persevering (bền bỉ), nghĩ sâu (deep thinkers), bướng bỉnh (stubborn), và hợp với màu đen, chẳng hạn.[1]
Bảng dưới là ba nơi có xài 12 con giáp.
thứ tự Trung Hoa Việt Nam Turkiye[2] năm (lịch Tây)
1 chuột chuột chuột 1900
2 bò trâu trâu/bò 1901
3 cọp cọp cọp/beo 1902
4 thỏ thỏ/mèo thỏ 1903
5 rồng rồng cá/rồng 1904
6 rắn rắn rắn 1905
7 ngựa ngựa ngựa 1906
8 dê dê dê 1907
9 khỉ khỉ khỉ 1908
10 gà gà gà 1909
11 chó chó chó 1910
12 heo heo heo 1911
Ta nhận thấy những con giáp ở cả ba nơi đều gắn với những năm giống nhau trong lịch Tây (Gregorian calendar), mặc dù cả ba nơi đã xài 12 con giáp trước khi họ biết lịch Tây và họ biết lịch Tây ở những thời điểm khác nhau:
Điều đó cho thấy rằng dường như mọi nơi đều xài chung một hệ thống con giáp mà ban đầu nảy ra ở một nơi nào đó rồi về sau lan tới những nơi khác; chớ không phải mỗi nơi tự đặt ra một hệ thống con giáp riêng.
Đó sẽ là chủ đề mà ta tìm hiểu trong loạt bài này, nhưng trước hết xin nhắc qua đôi ba mẩu chuyện cũ có liên quan, nẩy ra trong quãng chục năm trở lại đây.
1. Chuyện cũ
1.1. Địa chi cũng là con giáp?
Mười ‘can’ Giáp, Ất, Bính, Đinh,… và mười hai ‘chi’ Tý, Sửu, Dần, Mẹo,… đã thấy khắc trên xương thú và mai rùa bằng một thứ chữ xưa (‘giáp cốt văn’) của nhóm người nào đó ở Đông bắc Á lối 1200 BCE, để dùng làm tên gọi 60 ngày, lần lượt từ Giáp-Tý cho tới Quý-Hợi.[3] Tất nhiên nhóm người đó không phải người Tàu, vì lúc đó chưa có cái gì gọi là ‘Tàu’ hết. Về sau, theo thuyết ‘Ngũ hành’ của người Tàu, thì 12 chi được gắn với 12 vị trí trên bầu trời mà mặt trời lần lượt đi qua trong 12 giờ mỗi ngày, bởi vậy giờ Mẹo (5:00–7:00 AM) là giờ mà mặt trời đang ở vị trí ‘Mẹo’ tức là hướng chánh Đông, thí dụ như vậy.
Tới thời trào Hán, lối 200 BCE, người Tàu dùng 60 can-chi làm tên gọi 60 năm,[4] và lấy 12 con giáp gắn với 12 chi: Tý-chuột, Sửu-bò, Dần-cọp, Mẹo-thỏ, Thìn-rồng, Tỵ-rắn, Ngọ-ngựa, Mùi-dê, Thân-khỉ, Dậu-gà, Tuất-chó và Hợi-heo.[5] Họ lấy ở đâu ra 12 con giáp, rồi gắn 12 con giáp với 12 chi theo mối liên quan ra sao, thì ta không thấy tài liệu nào nói.
Trong giới khảo cứu người Việt, có An Chi (viết tắt ‘AC’) cho rằng giữa 12 chi với 12 con giáp có mối liên quan theo nghĩa (semantic relation), và nêu lên mấy ý như sau:[6]
thần sấm là rồng (dựa theo niềm tin của người Tàu),
nên Thìn có nghĩa là rồng.
chằn là cọp,
nên Dần có nghĩa là cọp.
Ở những ý 1-2-3 nêu trên, AC dựa theo Thuyết văn giải tự của Hứa Thận, học giả thời trào Hán. Song le, chúng tôi cho rằng Thuyết văn giải tự không phải là nơi để đi tìm cái nghĩa của 12 chi, bởi vì tài liệu đó không phải là một cuốn tự điển.[7]
Dù vậy, chúng tôi cũng đọc lại tài liệu đó để ‘fact-check’ AC, và rồi nhận thấy cả ba ý 1-2-3 đều sai, như trình bày dưới đây.
(1) Tỵ
Hứa Thận giải thích chữ Tỵ bằng đoạn văn này:[8]
ý nói rằng:8
Tỵ là làm rồi. Tháng tư, dương khí hiện rồi, mà âm khí khuất rồi. Vạn vật rành rành, cái nào ra cái nấy, bởi vậy chữ này lấy hình con rắn để nói ý đó.
(Chữ ‘Tỵ’ 巳 có một cái hình vuông tượng trưng cho dương khí và một cái xà ngoéo tượng trưng cho âm khí.)
Rõ ràng đoạn văn đó không hề nói Tỵ có nghĩa là ‘con rắn’.
(2) Hợi
Hứa Thận giải thích chữ Hợi bằng đoạn văn này:8
ý nói rằng:8
Theo cái nghĩa và cách đọc thì Hợi có liên quan với Cai, nghĩa là ‘rễ cỏ’ (vì dương khí ở bên dưới*). Tháng mười, dương khí nhẹ bốc lên gặp âm khí thạnh. Chữ này theo chữ Thượng trong cổ văn, với hai nét, nghĩa là ‘ở trên’ (vì âm khí ở trên*). Chữ có hai hình, là một người nữ và một người nam (để làm tròn cái đạo kiền khôn*). Chữ cũng có nét 乙 mô tả hình một đứa nhỏ cười ngặt nghẽo. Tả Truyện nói chữ Hợi gồm hai nét trên là hai cái đầu và sáu nét dưới là sáu cái mình. Cổ văn dùng chữ Thỉ, nghĩa là heo, cho Hợi. Ở tại Hợi và sanh con, tức là hết thảy từ một mà ra.
(*: lời chú của Đoàn Ngọc Tài, học giả thời trào Thanh)
Rõ ràng đoạn văn đó không hề nói Hợi có nghĩa là ‘con heo’. Đoạn văn đó cho biết:
(3) Thìn
Hứa Thận giải thích chữ Thìn bằng đoạn văn này:8
ý nói rằng:8
Theo cái nghĩa và cách đọc thì Thìn có liên quan với Chấn, nghĩa là ‘động’. Tháng ba, dương khí chuyển, sét đánh, với người là lúc làm nông. Chữ này có hai nét 乙 và 匕, tượng hình ngọn cỏ đội đất nhú lên. Đọc như chữ Hán. Cũng là chòm sao Phòng, là thời gian.
Rõ ràng đoạn văn đó không hề nói Thìn có nghĩa là ‘sấm’. Đoạn văn đó cho biết mối liên quan giữa chữ Thìn 辰 với những chữ Chấn 震 (động), Chấn 振 (đánh), Hán 厂 (vách núi), Phòng 房 (tên một chòm sao).
(4) Dần
Ý này cũng sai, bởi vì:
‘Chằn’ được hiểu như sau:
(5) Tám chi còn lại
AC chẳng đưa ra ý gì để giải thích mối liên quan theo nghĩa giữa 8 chi còn lại với 8 con giáp tương ứng.
Xin nhắc lại rằng tự điển của người Tàu,[11] và các tự điển Hán-Việt,[12] đều không cắt nghĩa 12 chi là những con vật nào hết.
Tới đây, chúng tôi xin nêu thêm một số ý khác cắt nghĩa 12 chi, thí dụ như sau.
1.2. Địa chi là ‘tiếng Việt cổ’?
Trong giới khảo cứu người Việt, có Nguyễn Cung Thông (viết tắt ‘NCT’) đặt ra giả thiết rằng những chữ ‘giáp cốt văn’ viết 12 chi là cách ghi lại tên gọi các con vật trong ‘tiếng Việt cổ’, nói cách khác: nhóm người nghĩ ra 12 chi (xin nhắc lại rằng nhóm đó không phải người Tàu) đã không biết gọi 12 chi là gì nên đành mượn tên các con vật của nhóm nói ‘tiếng Việt cổ’ để gọi 12 chi.[15] Tiếc thay, NCT không cắt nghĩa ‘tiếng Việt cổ’ là gì, mà vẫn miệt mài đi ‘test’ giả thiết đó.
Vậy ‘tiếng Việt cổ’ có thể là gì?
Hai hình dưới, vẽ lại theo Sidwell,[16] cho biết tiếng Việt ở nhánh Việt-Mường trong nhóm Vietic.
Tùy theo cách hiểu, ta sẽ có ‘tiếng Việt cổ’ là proto-Vietic hoặc proto-Việt-Mường. Ngoài ra, ‘tiếng Việt cổ’ cũng có thể hiểu là một thứ tiếng nảy ra ở giai đoạn đầu tiên của quá trình pha trộn tiếng proto-Việt-Mường với một thứ tiếng Sinitic ở miền bắc Việt Nam, trong quãng những năm 1000 hồi đầu trào Lý, mà nay là tiếng Việt ta đang nói (Phan[17]).
Vậy có ba thứ có thể gọi là ‘tiếng Việt cổ’, nảy ra ở những thời điểm phỏng chừng như sau, từ mới nhứt cho tới xưa nhứt:
Dựa theo cách mà NCT dùng từ ngữ để test giả thiết của ông, chúng tôi hiểu ‘tiếng Việt cổ’ ở đây là proto-Vietic. Và ta có:
Với khoảng cách 800–1000 năm (chưa tính 1700km theo đường chim bay), thì không có cách chi để nhóm người nghĩ ra 12 chi hồi 1300 BCE tiếp xúc với nhóm người nói tiếng ‘Việt cổ’ proto-Vietic ở Đông bắc Á để mượn được từ ngữ của họ .
Nói cách khác, giả thiết của NCT đã sai ngay từ đầu.
Ở trên, chúng tôi có nói ‘tiếc thay…’ đó là tiếc cho NCT đã mất công đi test giả thiết đó.
Tới đây hết phần 1. Ở phần 2 tiếp theo, ta sẽ nói chuyện mới, gồm con giáp thứ 4 ở Việt Nam và nguồn gốc 12 con giáp.
Chú thích:
[1] Sanmu Tang (2012) Chinese zodiac animals. ISBN: 978-1-60220-977-0.
[2] Lư Vỹ An (2017) Hệ thống lịch 12 con giáp của người Thổ Nhĩ Kỳ.
[3] David W. Pankenier. Getting “Right” with Heaven and the Origins of Writing in China, in
Writing and literacy in early China, ed Li Feng & David P. Branner. 2011. ISBN 978-0-295-99152-8.
[4] Helmer Aslaksen (2006) The Mathematics of the Chinese Calendar.
[5] Vương Sung, Luận Hằng, mục 14. vật thế, Alfred Forke dịch tiếng Anh, in lần 1, năm1907.
[6] An Chi (2018) Từ thập nhi chi đến mười hai con giáp.
[7] Françoise Bottéro and Christoph Harbsmeier. The Shuowen Jiezi dictionary and the human sciences in China, in Asia Major third series, vol. 21, No. 1, Star gazing, firephasing, and healing in China: Essays in honor of Nathan Sivin (2008), pp. 249-271.
[8] Jan Vihan (2012) Language, likeness, and the Han phenomenon of convergence. Doctoral dissertation, Harvard University.
[9] Contes et légendes Annamites, ed Anthony Landes (1886).
[10] Nguyễn thị Tâm Anh, Hình tượng Chằn trong nghệ thuật điêu khắc các ngôi chùa Phật giáo Nam tông Khmer ở Nam bộ, Nghiên cứu tôn giáo, 05(131), 2014.
[11] Chinese Text Project (ctext.org).
[12] https://www.rongmotamhon.net/tu-dien_han-viet_none_rong-mo-tam-hon.html
[13] Akatsuka Kiyoshi, The cosmological meaning of the ten Gan and twelve Zhi in Shang civilization, copyright © Society for the Study of Early China 1986.
[14] Jonathan M. Smith, The “Di Zhi” 地支 as lunar phases and their coordination with the “Tian Gan” 天干 as ecliptic asterisms in a China before Anyang, Early China Vol. 33/34 (2010–2011).
[15] Nguyễn Cung Thông, Thạch Sanh, Nguồn gốc Việt Nam của tên 12 con giáp, tạp chí Khoa học xã·hội Việt Nam – 2/2009.
[16] Paul Sidwell (2015) A comprehensive phylogenetic analysis of the Austroasiatic languages. Diversity Linguistics: Retrospect and Prospect.
[17] John Duong Phan (2013) Lacquered words: the evolution of Vietnamese under Sinitic influences from the 1st century BCE through the 17th century CE.
[18] Eric W. Holman et al, Automated dating of the world’s language families based on lexical similarity, Current Anthropology Volume 52, Number 6, December 2011.
Hình ảnh thêm về Mười hai con giáp, nói hoài chưa hết – Phần 1