SƠ LƯỢC VỀ PHẬT GIÁO
MẬT TÔNG TÂY TẠNG
(SUMMARIES OF THE TIBETAN ESOTERIC BUDDHISM)
Thiện Phúc
SO LUOC VE PG TAY TANG-VIET
SO LUOC VE PG TAY TANG-ANH
Copyright © 2026 by Ngoc Tran. All rights reserved.
No part of this work may be reproduced or transmitted in any form or by any means, electronic or mechanical, including photocopying and recording, or by any information storage or retrieval system without the prior written permission of the author, except for the inclusion of brief quotations. However, staff members of Vietnamese temples who want to reprint this work for the benefit of teaching of the Buddhadharma, please contact Ngoc Tran at (714) 778-2832.
Mục Lục
Lời Đầu Sách
Phần Một: Tổng Quan Về Đức Phật & Đạo Phật
Chương Một: Đức Phật Lịch Sử Thích Ca Mâu Ni
Chương Hai: Tóm Lược Về Đạo Phật
Chương Ba: Vũ Trụ-Nhân-Duyên Sanh Theo Quan Điểm Phật Giáo
Chương Bốn: Nhân Sinh Quan Phật Giáo
Chương Năm: Thế Giới Ta Bà & Thế Giới Của Chúng Ta Hôm Nay
Chương Sáu: Tổng Quan Về Tông Phái Phật Giáo Trong Buổi Sơ Thời
Chương Bảy: Các Trường Phái Trong Phật Giáo
Phần Hai: Tóm Lược Về Phật Giáo Mật Tông Tây Tạng
Chương Tám: Tổng Quan Về Phật Giáo Tây Tạng
Chương Chín: Những Trường Phái Có Liên Hệ Với Mật Tông
Chương Mười: Kim Cang Thừa: Phật Giáo Mật Tông Tây Tạng
Chương Mười Một: Lịch Sử Phát Triển Phật Giáo Tây Tạng
Chương Mười Hai: Những Tỳ Kheo và Học Giả Nổi Tiếng & Có Công Trong Thời Kỳ Truyền Bá Phật Giáo Đầu Tiên Tại Tây Tạng
Chương Mười Ba: Những Tỳ Kheo và Học Giả Nổi Tiếng & Có Công Trong Thời Kỳ Truyền Bá Phật Giáo Lần Thứ Hai Tại Tây Tạng
Chương Mười Bốn: Những Trường Phái Chính Trong Phật Giáo Tây Tạng
Chương Mười Lăm: Các Trường Phái Vẫn Còn Tồn Tại Tại Tây Tạng
Chương Mười Sáu: Những Vì Sao Sáng Chói Trên Vòm Trời Phật Giáo Tây Tạng
Chương Mười Bảy: Sơ Lược Về Hiển Giáo & Mật Giáo
Chương Mười Tám: Mật Giáo Tạp Bộ & Mật Giáo Thuần Bộ
Chương Mười Chín: Tóm Lược Về Phật Giáo Mật Tông Tây Tạng
Chương Hai Mươi: Ngài A Nan Và Việc Kết Tập Mật Giáo Trong Hội Nghị Kết Tập Kinh Điển Lần Thứ Nhất
Chương Hai Mươi Mốt: Mật Giáo Ngũ Tạng
Chương Hai Mươi Hai: Danh Xưng Đạt Lai Lạt Ma & Ban Thiền Lạt Ma
Chương Hai Mươi Ba: Thần Giám Hộ Trong Phật Giáo Mật Tông Tây Tạng
Chương Hai MươiBốn:Phương Pháp Thực Hành Của Mật Giáo Chân Ngôn Thừa
Chương Hai Mươi Lăm: Tam Mật Hành Chân Ngôn Thừa
Chương Hai Mươi Sáu: Sơ Lược Về Mạn Đà La & Cúng Dường Mạn Đà La Theo Truyền Thống Tây Tạng
Chương Hai Mươi Bảy: Nhị Phái Mật Giáo
Chương Hai Mươi Tám: Ba Đặc Tính Chính Trong Mật Giáo
Chương Hai Mươi Chín: Lý Mật-Sự Mật Theo Quan Điểm Mật Giáo
Chương Ba Mươi: Mật Chú: Các Âm Thanh Thiêng Liêng Trong Tu Tập Mật Giáo
Chương Ba Mươi Mốt: Năm Lối Điều Thân Theo Phương Pháp Du Già
Chương Ba Mươi Hai: Bảy Luân Xa Trong Tu Tập Thiền Pháp Du Già
Chương Ba Mươi Ba: Ba Cấp Độ Kiến Thức Trong Phái Duy Thức Du Già
Chương Ba Mươi Bốn: Trường Phái Du Già Với Con Đường Của Bốn Giai Đoạn Đi Đến Giải Thoát
Chương Ba Mươi Lăm: Quán Đảnh Theo Kim Cương Thừa Chương Ba Mươi Sáu: Thủ Ấn Trong Trường Phái Kim Cang Thừa
Chương Ba Mươi Bảy: Bảy Tư Thế Của Đức Tỳ Lô Giá Na
Chương Ba Mươi Tám: Tu Tập Sáu Pháp Mật Hành Của Naropa
Chương Ba Mươi Chín: Tam Thân Phật Trong Triết Học Du Già
Chương Bốn Mươi: Bốn Tiến Trình Tiến Tới Phật Quả Theo Quan Điểm Chân Ngôn Thừa và Câu Sinh Khởi Thừa
Chương Bốn Mươi Mốt: Phật Tỳ Lô Giá Na: Đức Phật Đặc Biệt Của Phật Giáo Mật Tông
Chương Bốn Mươi Hai: Vị Trí Của Đức Quán Thế Âm Trong Tu Tập Thiền Của Mật Giáo
Chương Bốn Mươi Ba: Phổ Hiền Bồ Tát: A Đề Phật & Hóa Thân Của “Chân Thân Phật”
Chương Bốn Mươi Bốn: Văn Thù Sư Lợi Bồ Tát: Biểu Tượng Cho Trí Huệ Phật
Chương Bốn Mươi Lăm: Tam Thân Luận Theo Quan Điểm Mật Giáo: Chết-Thân Trung Hữu-Tái Sanh
Chương Bốn Mươi Sáu: Tán Thán 21 Vị Hóa Thân Độ Mẫu Theo Truyền Thống Mật Tông
Chương Bốn Mươi Bảy: Mật Pháp Cúng Dường Đức Phật Theo Truyền Thống Mật Tông Tây Tạng
Phần Ba: Những Dòng Thiền Trung Hoa Từng Hoạt Động Tại Tây Tạng Trong Buổi Sơ Thời
Chương Bốn Mươi Tám: Lịch Sử Phát Triển Thiền Tây Tạng
Chương Bốn Mươi Chín: Chư Thiền Đức Hoằng Pháp Tại Tây Tạng Buổi Sơ Thời Trong Vùng Gần Hang Động Đôn Hoàng
Chương Năm Mươi: Chư Thiền Đức Thuộc Dòng Thiền Tứ Xuyên Hoằng Pháp Tại Tây Tạng Buổi Sơ Thời
Chương Năm Mươi Mốt: Bốn Thiền Phái Hoằng Pháp Tại Tây Tạng Buổi Sơ Thời
Chương Năm Mươi Hai: Chư Thiền Đức Tây Tạng Thời Cận Đại
Phần Bốn: Phụ Lục
Phụ Lục A: Thiền Minh Sát Trong Truyền Thống Kim Cang Thừa
Phụ Lục B: Du Già Tông
Phụ Lục C: Du Già Thiền
Phụ Lục D: Du Già Sư Địa Luận
Tài Liệu Tham Khảo
Lời Đầu Sách
Theo Phật giáo, Mật giáo hay Phật giáo Mật tông, phát triển đặc biệt nơi Chân Ngôn tông, thờ Đức Đại Nhật Như Lai, Thai Tạng và Kim Cương Giới; đối lại với Hiển giáo. Mật giáo gồm các kinh nói về mật tánh gắng sức dạy về mối tương quan nội tại của thế giới bên ngoài và thế giới tâm linh, sự đồng nhất của tâm và vũ trụ, các phương thức được Mật giáo xử dụng trong các phép quán tưởng như sau: Thứ nhất là quán tưởng Mạn Đà La. Mạn Đà La có nghĩa là “vòng tròn,” “hội,” hay “hình.” Có nhiều loại Mạn Đà La, nhưng có hai thứ thông thường nhất trong Mật giáo: hình kết hợp vẽ chân dung nhiều loại khác nhau, quỷ, thần, Phật và Bồ Tát, biểu thị năng lực, sức mạnh và các hoạt động chung trong các hình vuông tròn, và ngay tại trung tâm là Phật Tỳ Lô Giá Na, vị Phật Quang Minh Biến Chiếu; và một lược đồ tiêu biểu vài mẫu âm thiêng liêng của tiếng Phạn gọi là “bija” hay “chủng tử,” tiêu biểu cho các hình tượng. Thứ nhì là Chơn Âm. Chơn âm là các âm thiêng liêng như âm OM chẳng hạn, được truyền từ thầy sang đệ tử trong lúc khải thị. Khi tâm người đệ tử đã được điều hợp đúng đắn, người ta nói là các chấn động của biểu tượng ngôn ngữ này cùng với sự phối hợp của nó trong tâm thức của người khải thị để mở tâm thức của người đệ tử đến các chiều kích cao hơn. Thứ ba là Thủ Ấn. Đây là điệu bộ của thân thể, đặc biệt là các cử động tượng trưng của bàn tay, được thực hiện để trợ giúp kêu gọi những tâm thái song hành nhất định của chư Phật và chư Bồ Tát. Mật giáo chia làm hai bộ. Thứ nhất là Mật Giáo Tạp Bộ. Phái Mật Giáo Tạp Bộ có kinh điển được dịch rất sớm vào thế kỷ thứ 4 sau Tây Lịch. Cát Hữu (Srimitra) người xứ Qui-Tư, một bộ lạc da trắng, đã dịch một vài bản kinh sang Hán văn. Đó là những bùa chú thường gồm có một vài mật chú và những bài tán thần hay thánh ở thượng giới, nhưng thật ra chúng không thể đuợc xem như là biểu dương cho những ước vọng cao. Thứ nhì là Mật Giáo Thuần Bộ. Phái mà ta mệnh danh là Mật Giáo Thuần Bộ hay Thuần Mật khởi đầu với ba vị pháp sư Ấn Độ đến Trung Quốc vào thời nhà Đường (713-765). Vị đầu tiên là Thiện Vô Úy, vị thứ hai là Kim Cương Trí, vị thứ ba là Bất Không, và vị thứ tư là Nhất Hành.
Theo lịch sử Phật Giáo Tây Tạng, cuộc truyền giáo lần thứ nhất hay là giai đoạn truyền bá đầu tiên của Phật giáo đến Tây Tạng, bắt đầu với sự quang lâm của Liên Hoa Sanh và Santaraksita dưới triều đại Trisong Detsen. Ba vị ấy đã thiết lập Tịnh xá Phật giáo đầu tiên trong xứ Tây Tạng, gọi là Samye. Khi Phật giáo đã được phổ cập, số người Tây tạng du hành qua Ấn Độ tu học ngày càng gia tăng, và ngày càng có nhiều thầy dạy Phật pháp người Ấn Độ được đưa đến Tây Tạng. Văn phòng phiên dịch được thiết lập, và chánh phủ bắt đầu bảo trợ những sinh hoạt Phật giáo. Giai đoạn truyền bá Phật giáo đầu tiên chấm dứt khi vua Relbachen bị sát hại và Lang Darma lên ngôi (từ năm 838 đến năm 842). Sau khi lên ngôi, ông mở ra một cuộc ngược đãi đạo Phật và rút lại hết những tài trợ cho các thầy và những kế hoạch Phật giáo, nhưng chẳng bao lâu sau ông bị ám sát bởi một vị Tăng không có thiện cảm với ông tên là Belgi Dorje. Việc này đưa đến việc chấm dứt triều đại Yar Lung, và Phật giáo bị suy yếu. Việc chấm dứt này là khởi điểm cho việc truyền bá Phật giáo lần thứ hai khi A Để Sa đến Tây Tạng vào năm 1042.
Vào giữa thế kỷ thứ V, Kim Cang Thừa, trường phái Phật giáo Mật tông Tây Tạng xuất hiện. Phái nầy phát triển từ trường phái Đại thừa, nhưng coi việc thực hiện các nghi lễ là quan trọng như một phương pháp tâm lý để thu hút tín đồ. Căn bản giáo điển của truyền thống này là một tập hợp nhiều bài chú khác nhau, có lẽ được biên soạn vào những thế kỷ thứ sáu và thứ bảy, nhưng người ta cho rằng do Đức Phật Thích Ca Mâu Ni hay những vị Phật khác đã nói. Kim Cang Thừa cũng theo Bồ Tát đạo căn bản của Phật giáo Đại thừa. Tuy nhiên, thừa này dạy những phương thức khác và cho rằng phương thức đó có thể rút ngắn thời gian đòi hỏi để đạt thành Phật quả, bao gồm những nghi lễ, dùng thủ ấn, dùng mạn đà la, và dùng pháp quán tưởng. Sự tu tập chủ yếu là “thiên thiền” (devata-yoga), trong đó hành giả mường tượng mình là một vị Phật, có đầy đủ những phẩm chất tốt của một vị phật, đang tiến hành những hoạt động từ bi. Trường phái này nhấn mạnh vào tính bí mật và sự hữu hiệu của phương cách tu tập, thường thì trường phái đòi hỏi một người phải chịu phép quán đảnh từ một vị Thầy có đủ phẩm chất trước khi bước vào con đường tu tập theo Mật giáo. Kim Cang Thừa trở thành truyền thống thiền có ảnh hưởng lớn tại Tây Tạng và Mông Cổ, cũng như tại một vài trường phái Mật tông tại các xứ Đông Á, gồm các trường phái Chân Ngôn tại Trung Hoa, Việt Nam và Nhật Bản.
Có lẽ không nơi nào mà đạo Phật được tiếp nhận lại có thể dấy lên một ý thức lịch sử mới mẽ và mãnh liệt trong lòng người dân như ở Tây Tạng. Theo Giáo sư P.V. Bapat trong Hai Ngàn Năm Trăm Năm Phật Giáo, giống như lịch sử Ấn Độ bắt đầu được ghi bằng chữ viết từ thời vị vua hâm mộ Phật giáo, A Dục, lịch sử Tây Tạng cũng bắt đầu được viết ra từ triều đại vị hoàng đế tài hoa Sron-btsan-sgam-po (sinh năm 617 sau Tây Lịch), người đầu tiên có ý tưởng đưa ngôn ngữ nói của Tây Tạng vào một hệ thống văn viết xử dụng các chữ cái nhằm giúp cho Phật giáo từ Ấn Độ dễ dàng đi vào đất nước của ông. Tuy nhiên, những tiếp xúc về văn hóa giữa Tây Tạng với thế giới Phật giáo chung quanh như Ấn Độ, Khotan, Mông Cổ, Trung Hoa, Miến Điện, vân vân, có lẽ đã có ít ra từ hai thế kỷ trước đó. Vào khoảng giữa thế kỷ thứ IX, sự phát triển của đạo Phật vào lúc nầy bỗng bị trở ngại vì vua Ral-pa-chen bị sát hại bởi những người ủng hộ người anh thất sủng là Glan-dar-ma. Ông nầy lên ngôi và trở thành kẻ thù công khai của Phật giáo Tây Tạng. Các tượng Phật bị đem chôn, các tu viện bị đóng cửa, các lễ nghi tôn giáo bị ngăn cấm và các tu sĩ bị buộc phải hoàn tục hay bị trục xuất ra khỏi nước. Tuy nhiên, ông nầy bị một tu sĩ giết chết vào năm 841.
Việc triệt hạ đạo Phật một cách tàn nhẫn của Glan-dar-ma đã đánh dấu một thời kỳ quyết định trong lịch sử chánh trị của Tây Tạng vì nó gióng lên hồi chuông báo tử cho nền quân chủ tại đây. Giới Tăng lữ bị trục xuất quay trở về Tây Tạng và trở nên mạnh mẽ hơn lúc nào hết. Những người kế vị của Glan-dar-ma thì ngày càng bạc nhược. Cuối cùng, người con trai của vị vua cuối của Lhasa là Dpal-hkhor-btsan (906-923) đã từ giả kinh đô để đi về miền Tây, tại đây ông tự phong là vị vua độc lập. Ông gom ba quận Ladakh, Spurang, và Guge dưới quyền cai trị của mình và sau đó chia ba quận nầy cho ba người con trai. Trong số những người kế vị ba nhánh hoàng gia nầy, người ta thấy có những người lỗi lạc, đã bảo trợ cho Phật giáo tại miền Tây bằng cách bảo trợ cho các tu sĩ, cử học giả Tây Tạng đến Kashmir nghiên cứu những phát triển mới của giáo lý, đẩy mạnh việc dịch thuật các văn bản Phạn ra tiếng Tây Tạng. Như vậy, mặc dù Phật giáo đã đến Tây Tạng dưới nhiều điều kiện rất thuận lợi, nhưng nó không mọc rễ được trên vùng đất lạ nầy một cách dễ dàng và mau chóng như mong muốn của vua Sron-btsan. Đạo nầy phải bước vào một cuộc chiến không khoan nhượng trong khoảng ba thế kỷ với các tín ngưỡng Phon của người bản xứ. Đạo Phật phải đánh tan những điều mê tín dị đoan, phải có những thỏa hiệp, phải thích nghi giáo lý của mình với những cổ tục kỳ lạ đã được lưu truyền từ thuở xa xưa trên vùng đất nầy, và phải chấp nhận những thất bại, mãi cho đến thời kỳ của Đại sư A Để Sa vào thế kỷ thứ 11, cuối cùng Phật giáo có thể nói là trở thành quốc giáo của Tây Tạng.
Như trên đã nói, cuộc sống và công việc của ngài A Để Sa tại Tây Tạng rất quan trọng cho sự phát triển Phật giáo tại nước nầy. Từ khi ông đến Tây Tạng thì Phật giáo nước nầy đã phát triển thành nhiều trường phái bản địa khác nhau. trong số nầy hình thức Phật giáo hỗn tạp và chưa cải cách ban đầu được gọi là Rnin-ma-pa hay là trường phái Cũ với bốn tiểu phái chính. Các tín đồ của trường phái nầy thờ cúng Padmasambhava, xem đây là người sáng lập và là đạo sư của họ, họ tin tưởng vào sự ứng nghiệm của thần linh ma quỷ, họ thường được nhận biết qua chiếc mũ màu đỏ. Các giáo lý cải cách của A Để Sa, dựa trên truyền thống Du Già do Di Lặc và Vô trước sáng lập, dẫn đến sự hình thành của trường phái Bkah-gdams-pa bởi người đệ tử người Tây Tạng của ông là Hbrom-ston. Trường phái nầy có quan điểm tổng hợp của cả Tiểu Thừa lẫn Đại Thừa, buộc các tu sĩ phải sống độc thân và không khuyến chuyện phù phép. Chính trên cơ sở của giáo lý nầy mà nhà cải cách vĩ đại của Tây Tạng là Tông Khách Ba vào thế kỷ thứ 14, đã lập nên trường phái Dge-lugs-pa, qua sự gạn lọc những nghi thức cầu kỳ của Bkah-gdams-pa và đang chiếm ưu thế trong Phật giáo Tây Tạng ngày nay cả về thế tục lẫn tâm linh, qua sự kế vị của các vị Đạt Lai Lạt Ma (Dalai Lamas).
Quyển sách nhỏ có tựa đề “Sơ Lược Về Phật Giáo Tây Tạng” này không phải là một nghiên cứu chi tiết về sự phát triển của Phật Giáo tại Tây Tạng, mà nó chỉ viết rất tóm lược về sự phát triển cũng như những gì xảy ra cho đạo Phật trên đất nước này. Như trên đã nói, tại Tây Tạng, đạo Phật phải bước vào một cuộc chiến không khoan nhượng trong khoảng ba thế kỷ với các tín ngưỡng Phon của người bản xứ. Đạo Phật phải đánh tan những điều mê tín dị đoan, phải có những thỏa hiệp, phải thích nghi giáo lý của mình với những cổ tục kỳ lạ đã được lưu truyền từ thuở xa xưa trên vùng đất này. Thật vậy, quyển sách nầy cũng đề cập đến sự phát triển tuy chậm mà chắc chắn này của Phật giáo cũng nhằm cho mọi người thấy rằng chân lý của đức Phật được dành cho mọi người, bất kể địa vị xã hội hoặc tầng lớp thu hút họ đi theo con đường dẫn đến giác ngộ và sự diệt khổ. Đạo Phật thường xuyên tìm cách kết hợp chặt chẽ với phong tục địa phương và những đức tin đó được kết hợp với đời sống xã hội. Chính điều này đã làm cho Phật giáo rất ảnh hưởng và trở thành một truyền thống vô cùng đa dạng, tuy thế nó vẫn tìm cách giữ gìn cốt lõi giáo pháp của mình. Thông thường mà nói, Phật tử chúng ta cũng nên biết về lịch sử, sự tiến triển và những gì đã và đang xảy ra trong tôn giáo mà mình đang theo. Chính vì thế mà mặc dù hiện tại đã có quá nhiều sách viết về đức Phật và Phật giáo, tôi cũng mạo muội biên soạn tập sách “Sơ Lược Về Phật Giáo Tây Tạng” bằng song ngữ Việt Anh nhằm phổ biến cho Phật tử ở mọi trình độ, đặc biệt là những người sơ cơ, hy vọng sự đóng góp nhỏ nhoi này sẽ giúp cho Phật tử hiểu biết thêm về sự phát triển của đạo Phật, không riêng ở Việt Nam, mà ở khắp mọi nơi trên thế giới, trong suốt chiều dài lịch sử gần 26 thế kỷ. Hy vọng rằng tất cả chúng ta đều có thể có được một cuộc sống mẫu mực như những Phật tử tiêu biểu trong quá khứ trên thế giới nhằm giúp dẫn đến một cuộc sống an lạc và hạnh phúc cho chính mình.
Cẩn đề,
Thiện Phúc