Tịnh độ là thế giới hay cõi nước trong sạch, không có 5 thứ ác trược: Kiếp trược, kiến trược, phiền não trược, chúng sinh trược và mạng trược. Tịnh độ là nơi an trụ của các hành Thánh giả như: A la hán, Duyên giác, Bồ tát và Phật.
Ngài pháp sư Tịnh Không, một cao tăng đương thời có nói: "Kinh Phật muôn đời vẫn mới mẻ, thích ứng với mọi thời đại. Từ ba ngàn năm trước, những kinh điển được giảng tại Ấn Độ khiến cho người Ấn Độ thời ấy được thọ dụng. Ba ngàn năm sau, đối với những kinh điển ấy, chúng sinh ngày nay vẫn được thọ dụng y hệt chẳng khác biệt gì. Nhưng vì hình thái ý thức, bối cảnh văn hóa, cũng như hoàn cảnh sống xưa nay rất khác nên cần phải có giải thích lại, nghĩa là hiện đại hóa địa phương hóa kinh Phật để thích ứng căn cơ đương thời."
Ngày nay cách Phật nhập diệt đã hơn 2500 năm, tức là đã đi sâu vào thời Mạt pháp[1], ma chướng nặng nề, nên đối với kinh Phật nói chung và pháp môn Tịnh độ[2] nói riêng, chúng sinh ngày càng tin tưởng ít, ngờ vực nhiều. Con tự xét sức học cạn cợt, tâm trí si ám, may nhờ cơ duyên gặp được pháp môn Niệm Phật, được hưởng sự an lạc trong pháp Phật, đội ơn sâu dày của Phật, trong tâm hằng mong được báo đáp chút phần nên cả gan, mạo muội biên soạn lại ít phần nghi vấn trong "Di Đà sớ sao" của Liên Trì đại sư, sách "Tịnh Độ thập nghi luận" của Trí Giả đại sư, "Tây Phương yếu quyết" của Khuy Cơ đại sư.... Nói theo lời ngài Ngẫu Ích, con chẳng dám ganh đua mà giải đáp cho khác các vị song cũng không nhất định phải giống hoàn toàn. Lời dạy của các vị Tổ sư như thuyền lớn độ tận hết thảy chúng sinh, lời lạm bàn thô kệch của con như chạy theo thuyền lớn mà gạt bèo gạt nước; chẳng dám chống trái lời dạy của các ngài mà hy vọng đem chút lời cùng làm sáng tỏ pháp môn Tịnh Độ kỳ diệu nhiệm mầu thì may mắn lắm.
Cúi mong Chư Phật gia hộ, hậu thân Thích Ca Trí Giả đại sư, Tổ sư Liên Trì, Khuy Cơ đại sư gia hộ cho con chẳng đến nỗi biến nước cam lộ giải thoát thành độc dược.
Nam mô A Di Đà Phật!
--------------------------------------------
Lạm bàn:
Luận Trí Độ có nói: Biển Phật pháp mênh mông, hễ tin là vào được.
Trong kinh Pháp Hoa, Đức Phật dạy: Tất cả các kinh điển đại thừa đều phải do cửa Tín mà vào, chẳng phải do tự lực cửu giới [3] chúng sinh suy lường mà hiểu được.
Ngẫu Ích đại sư trong tác phẩm Di Đà yếu giải có nói: Các kinh đại thừa đều lấy Thật tướng[4] làm Chánh thể[5]. Thật tướng là cách gọi khác của Tự tánh[6], Tịnh tông gọi là Tự tánh Di Đà.
Kinh A Di Đà và kinh Vô Lượng Thọ đều lấy Tự tánh Di Đà làm Thể. 48 Đại nguyện độ sanh của Phật Di Đà cũng đều từ Tự tánh thanh tịnh phát khởi ra.
Do đó nương theo Đại nguyện của Phật Di Đà khởi tu tức là trở về với Tự tánh Di Đà, tức là thành Phật. Do nơi Tự tánh chẳng thể nghĩ bàn nên suy lường chẳng thể vào được, phải vào bằng niềm tin thanh tịnh, sáng suốt.
Vậy nên ba món tư lương về cõi Tịnh là Tín, Nguyện Hạnh thì Tín đứng đầu; trong Ngũ căn , Ngũ lực thì Tín cũng đều đứng đầu. Nếu chẳng có Tín đâu thể vào được biển Phật pháp, có chăng chỉ là nghiên cứu chữ nghĩa suông mà thôi.
Có thể hình dung công phu tu hành như trồng cây, gieo nhân ắt hái quả. Một niệm phát tâm tu hành là gieo nhân. Nếu phát tâm tu cầu công danh ắt được công danh, cầu phú quý ắt được phú quý, cầu làm Thanh văn ắt được làm Thanh văn, cầu quả vị Phật ắt được quả vị Phật.
Nên kinh Hoa Nghiêm nói: Niềm tin là mẹ của tất cả chư Phật, xuất sinh tất cả hạnh lành.
Trong phạm vi nhỏ bé của cuốn sách, con xin được tổng hợp, biên soạn các điều nghi vấn trong pháp môn mà đức Thế Tôn dạy là "khó tin khó hiểu bậc nhất", dẫn lời khai thị vàng ngọc của các Tổ sư, đại đức; mong phần nào giải tỏa chút nghi ngờ cho người tu tập Tịnh nghiệp, được như vậy thật may mắn lắm.
Nam mô A Di Đà Phật.
Chú thích:
[1]: Là thời gian sau 2 thời Chánh và Tượng: Tức là thời thứ ba gọi là "Mạt pháp". Phật sử chép: Giáo pháp của đức Thích Ca truyền để ở thế giới này được phân làm ba thời kỳ: Từ ngày Phật nhập diệt về sau, một nghìn năm (1000) là "thời chánh pháp", đó là thời kỳ thứ nhất. Từ đó về sau, một nghìn năm (1000) là "thời tượng pháp", đó là thời kỳ thứ hai. Từ đó về sau một vạn năm là "thời mạt pháp" đó là thời kỳ thứ ba. Hiện nay (2014), sử Phật đã được 2577 năm mà Tổ sư Vân Thê sanh ra đời nhằm trong thời gian từ Gia Tĩnh đến Vạn Lịch (1522-1615) nhà Minh bên Tàu nên Tổ sư than lấy mình sanh nhằm đời mạt pháp, nghĩa: Giáo pháp đã đến thời kỳ chót ngọn rồi! Cũng như nói: sanh sau đẻ muộn thua kém đủ bề!
[2]: Tịnh: Trong sạch, không nhiễm dơ; Độ: Cõi nước, thế giới
Tịnh độ là thế giới hay cõi nước trong sạch, không có 5 thứ ác trược: Kiếp trược, kiến trược, phiền não trược, chúng sinh trược và mạng trược. Tịnh độ là nơi an trụ của các hành Thánh giả như: A la hán, Duyên giác, Bồ tát và Phật.
Tịnh độ cũng được gọi bằng nhiều tên như: Phật địa, Phật giới, Phật quốc, Phật độ, Thanh tịnh độ, tịnh diệu quốc độ,...Trong mười phương thế giới có vô số cõi Tịnh độ cũng như vô số cõi uế độ (cõi ô nhiễm). Như Tây Phương Cực Lạc của đức Phật A Di Đà là cõi Tịnh dộ, còn thế giới của ta đang sống tên gọi Ta Bà là cõi uế độ.
Pháp môn Tịnh độ là pháp môn Niệm Phật cầu sanh về cõi Cực Lạc của đức Phật Di Đà ở phương Tây.
[3]: Cửu giới chúng sinh: Mười phương thế giới được chia thành Thập (mười) pháp giới. Đó là:
- Địa ngục, Ngã quỷ, Súc sinh, A tu la, Người, Trời (còn gọi là lục đạo luân hồi: 6 đường trong cõi luân hồi chết đi sống lại)
-Bốn pháp giới còn lại của Thánh là: A la hán, Duyên giác, Bồ tát và Phật.
Nói đến cửu giới là nói đến các chúng sinh từ địa ngục đến Bồ tát.
[4]: "Tín, Hạnh, Nguyện": Tín: đức tin. Có Lý và Sự. Lý: Tự tin mình sẵn có tự tánh Di Đà, duy tâm Tịnh Độ. Sự: Thật có đức Phật A Di Đà lập thành nước Cực Lạc bằng 48 nguyên tắc đại nguyện để tiếp chúng sanh niệm Phật về ở đó. Hành là thật hành chấp trì danh hiệu của Phật để niệm cho đến "nhứt tâm bất loạn". Nguyện là nguyện đến khi lâm chung, tập trung tự lực, và thống nhấtt tha lực để được hóa thân Phật đến tiếp về Tịnh Độ, hoa khai kiến Phật, đắc vô sanh nhẫn, rồi trở lại cõi này, cứu độ chúng sanh, đền ơn đức Phật.
Tóm lại, Tín, Hạnh, Nguyện là công nghiệp để thành tựu về sự niệm Phật vãng sanh Tịnh Độ nên gọi là Tịnh nghiệp.
[5]: "Căn" được hiểu dụ như loài thảo mộc có rễ, có thể sinh trưởng, mang ý nghĩa gìn giữ. Ngũ căn gồm:
-Tín căn: Tin vào chánh đạo và các pháp trợ đạo trong Phật pháp.
-Tinh tấn căn: có thể thực hành chuyên cần chánh pháp Phật dạy.
-Niệm căn: Tư duy, suy niệm về pháp Phật dạy.
- Định căn: sau khi tư duy nơi pháp, có thể nhiếp tâm vào Phật pháp, chẳng để tâm tán loạn, rong ruổi ra bên ngoài.
-Huệ căn: Từ Định có thể phát sinh Huệ, có thể xâm nhập, thấu hiểu giáo lý nhiệm màu của Phật pháp.
[6]: Ví như loài thảo mộc sinh trưởng thành cây có sức mạnh, cũng vậy "ngũ căn" tăng trưởng sẽ thành "ngũ lực". Tổ Ngẫu Ích có viết:
- Tín căn tăng trưởng, có thể phá nghi hoặc, phá sự mê tín và phiền não thì gọi là Tín lực.
-Tinh tấn căn tăng trưởng, phá các biếng nhác nơi thân, tâm, thành tựu đại sự xuất thế gọi là Tinh tấn lực.
-Niệm căn tăng trưởng, phá các Tà niệm, thành tựu hết thảy các công đức chánh niệm xuất thế, gọi là Niệm lực.
-Định căn tăng trưởng, phá các loạn tưởng, phát khởi được Sự lý Thiền định gọi là Định lực.
-Huệ căn tăng trưởng, có thể ngăn chặn các lậu hoặc chung và riêng, phát khởi vô lậu chân thật thì gọi là Huệ lực.