Lê Huy Trứ
Ngày nay, có một số người trẻ, trước khi đám cưới, bỏ đạo Phật, bỏ đạo thờ cúng ông bà (Lương Giáo,) theo đạo vợ, nhiều hơn là theo đạo chồng. Những người này không có căn bản của Phật Pháp lẫn phong tục tập quán ngàn năm của tổ tiên. Nhất là, họ không học hỏi, không được hướng dẫn, thiếu kiến thức, trí tuệ cùng khả năng biện luận. Bởi vì, họ thiếu tự tin. Cho nên, họ dễ dàng bị lung lạc, tuyên truyền, nhồi sọ, và dụ dỗ bởi ngoại đạo.
Ngược lại, ngoại trừ đạo Hồi Giáo đang bành trướng bằng vũ lực như cố hữu, lan tràn mãnh liệt bởi những di dân Trung Đông tới những quốc gia tự do, và văn minh Âu Mỹ. Trong vòng 3 thập niên vừa qua, đã và đang có tỷ số rất cao, dân Âu Mỹ, tuy không chính thức bỏ đạo Thiên Chúa. Tuy họ vẫn tin vào Jesus Christ, nhưng họ không còn tin tưởng vào tính khả tín của giáo hội của họ nữa. Có rất nhiều tín đồ trẻ, không đem gia đình đi nhà thờ thường trực, và nhất là họ không còn đóng góp tài chánh thường xuyên, thậm chí đóng % tiền lương tháng của họ (bằng cách tự động, và trực tiếp từ ngân hàng để nộp tiền) cho nhà thờ nữa. Thậm chí có nhiều nhà thờ ở Âu Châu phải đóng cửa vì bị phá sản.
Điều này cho thấy, giáo hội lớn mạnh nhất thế giới này cũng đang trên đà mạt pháp. Bởi vì có vài vị lãnh đạo tinh thần, đã làm mất niềm tin của con chien qua những hành vi tội lỗi vô luân, và che đậy cho nhau của họ.
Lỗi tại ai? Mea Culpa!
Những tín đồ tỉnh ngộ này, những con chien sáng mắt ra đó đã biết chân ngụy, để chọn mặt gởi vàng. Ngược lại, những tín đồ ngu muội bị dụ dỗ cải đạo, hay những con chien mù quáng, cứ cuồng tín, không thấy mà phải tin, cứ ngoan ngoãn, thật thà bắt con cái phải tin tưởng những gì ma thuyết, chúa oan này, đáng thương hơn đáng trách.
Bởi vì, trong thời đại nhiễu nhương, mạt pháp, mạt tôn giáo này. Ngay cả các thượng mạn tăng, lẫn những giáo sĩ của những tôn giáo phổ thông khác, cũng bị mê hoạt, bị mua chuộc, sợ uy vũ nên khuất phục thế quyền. Bởi vì, chính bản thân họ bị chi phối, áp lực, và quyến rũ bởi những quyền lợi vật chất. Thay vì, họ thật tâm tu hành để được giác ngộ, để mà cứu độ chúng sinh, đúng theo tôn chỉ của Đức Thế Tôn.
Dĩ nhiên, chúng ta cũng nên thông cảm cho những hành giả, là tu hành không phải dễ dàng thành chánh quả. Có rất nhiều thử thách, cám dỗ, dễ bị sa ngã. Chúng ta không luận bàn về những chân tăng ni, chính giáo sĩ quyết chí tu hành trước cho mình giác ngộ, sau phổ độ nhân loại. Bài pháp luận này, không có chủ ý đã phá tôn giáo nào, mà là vạch mặt những “ma tăng, quỷ cha” trong nhà thờ chúa, trong chùa chiền, để cùng giúp nhau, quyét sạch môn hộ.
Chúng ta phải mạnh dạn, và cam đảm để chất vấn những hành động bất lương, gian đối, tà đạo của những kẻ tu hành quỷ đội lốt, mặc áo ma. Chúng ta phải nhất trí tái đặt những giáo hội tôn giáo của chúng ta, trở lại đúng vị trí lãnh đạo tinh thần của họ. Nếu như những giáo chủ, và những nhà lãnh đạo tinh thần này vẫn ngoan cố, che chở, dung túng kẻ gian, không chịu xin lỗi, sám hối, cải thiện, và canh tân, thì chúng ta phải thẳng tay tẩy chay, và khai trừ họ.
Tất cả phải tôn trọng sự thật, dù cho sự thật có phủ phàng, nhưng sự thật giải thoát chúng ta… kể cả chúng sinh, thánh thần lẫn ma quỷ.
Lịch sử đã chứng minh, những ma tăng, những giáo sĩ này được giáo hội huấn luyện rất chuyên nghiệp, biết lợi dụng lòng mê tín dị đoan của quần chúng cho quyền lợi của giáo hội. Họ được đào tạo để phục vụ giáo quyền với mục đích, buôn thần bán thánh, làm cho giáo hội giàu mạnh. Đồng thời, họ cũng cọng tác, phục vụ bạo thế quyền, tuân hành những chỉ thị của cường quyền để mỵ dân. Bằng cách, mê hoặc, ru ngủ, hướng dẫn dân chúng, tranh đấu cho mục tiêu có ích lợi cho chính quyền cùng giáo quyền. Thay vì, “phản động,” chống đối, làm bất lợi cho chính sách cai trị độc tài của chính phủ.
Những giáo hội tôn giáo lớn trên thế giới này. Thay vì, chú trọng đến nhiệm vụ tu hành, và hướng dẫn tâm linh cho tín đồ, và khách thập phương, và để trấn an, xoa dịu tín đồ trong cơn khổ đau, đưa đến tuyệt vọng. Những tập đoàn giáo hội, đế chế tôn giáo, chính trị chuyên nghiệp này lại, rất thiện nghệ trong phương cách lợi dụng vào niềm tin mù quáng của chúng nhân sinh, và của những tín đồ cuồng tín. Họ được huấn luyện thiện nghệ để điều khiển (control,) và dẫn dắt những tín đồ si mê muội này phục tòng cho mục đích chính trị tôn giáo, và quyền lợi của giáo hội.
Giáo hội Phật Giáo cũng không ngoại lệ mạt pháp này. Tuy nhiên, Giáo hội ‘phật giáo,’ từ trước đến nay, chỉ là một giáo hội tinh thần, tượng trưng trên hình thức. Chứ họ không có thực quyền lực lẫn ‘tài chánh quyền’ đối với các sư, và ni trụ trì tại các chùa tự túc, và tự lập. Tín đồ Phật Giáo cúng dường tùy hỷ, không thể bắt buộc họ nộp tiền cho chùa thường xuyên như những giáo hội tôn giáo khác được.
Đơn giản, vì họ biết Đức Phật không có quyền năng, thưởng thiện phạt ác. Đức Phật không có thể đày ai xuống địa ngục, không có thể cho ai lên thiên đường được. Tuy nhiên, đa số tín đồ đi chùa, để hối lộ thầy ni, nhờ cúng sao giải hạn, tang tế, và để cầu trời cầu phật cho con sức khoẻ, giàu có, sống lâu, thăng quan tiến chức, con cái học hành đổ đạt…vạn sự như ý. Dĩ nhiên, đa số cầu bất khả đắc nhưng biết đâu sẽ may mắn “trúng tủ,” trúng số độc đắc.
Trên đây là những tập tục, hủ tục, tập quán ngàn đời của nhân sinh, không bao giờ có thể thay đổi được.
Bởi vì thế, cho nên, những thượng mạn tăng ni, giáo sĩ cha cố được giáo hội tôn giáo‘đào tạo,’ cho ‘chiến lược tôn giáo vận.’ Với mục đích hợp tác với tập đoàn đầu tư thương mãi, để rữa tiền. Họ cũng được cường quyền đào tạo để làm chính trị vận, và gián điệp vận cho bạo quyền. Với mục đích, ‘chính trị tôn giáo,’ kiểm soát, điều khiển dân chúng, chứ không phải cho mục đích thuần túy tôn giáo.
Dĩ nhiên, cũng có nhiều bật chân tu quyết chí tu hành để phổ độ, và hướng dẫn chúng sinh. Nhưng hầu như đa số, họ không dám công khai phản đối thế quyền, và chống đối giáo quyền lực.
Phật Giáo cần tinh không cần đa. Những tín đồ nhẹ dạ, và những kẻ vô minh thượng mạn, phá đạo hay lìa đạo này, dù có ở, hay bỏ đi, thì cũng tốt cho Phật Giáo mà thôi. Chỉ tội nghiệp cho những con cái của bọn bị cải ngoại đạo, đầu xanh ngây thơ, vô tội, mới sinh ra phải bị đi rữa tội tổ tông. Không được tự mình lựa chọn niềm tin, mà phải gánh cái nghiệp quả vô minh của tổ tông nào đó. Chúng nó cũng như ông bà, cha mẹ của chúng nó đã bị nhồi sọ, tẩy não với những phương cách tinh vi. Ngay từ lúc chúng còn ngây thơ, dại khờ với mặc cảm tội lỗi đời đời của ‘tổ không cùng tông.’
Đạo Phật không có chủ trương mua chuộc, ham dọa, dụ dỗ ‘cải đạo,’ mà phải tự mình giác ngộ, tự mình tìm cho mình niềm tin thích hợp với tư chất của mình.
Đạo Phật không bắt ai theo được, cũng không thể dễ gì mà truyền dạy cho những kẻ vô duyên, vô minh, và thiếu trí tuệ. Tuy họ đều có Phật Nhãn nhưng đó là Phật Mù, còn rất lâu mới giác ngộ được.
Chúng sanh tuy cùng Phật Tánh nhưng căn trí bất đồng.
“Trong những tôn giáo khác, người ta nói rất nhiều đến sự “cứu rỗi” và “được cứu rỗi.” Nhưng trong Đạo Phật không có những ý niệm như thế.
Trong Đạo Phật tất cả việc làm đều hướng về một mục tiêu duy nhất. Đó là giác ngộ tính Phật căn bản nơi mình, và tất cả mọi nơi đều là nước Phật, là Tịnh Độ.
Vì vậy, tại sao phải nhờ đến người khác cứu rỗi mình? Ý niệm cứu rỗi là tuyệt đối không liên quan gì đến Đạo Phật. Đó là điều làm cho Đạo Phật độc đáo hơn tất cả những trường phái tín ngưỡng, và triết lý trên thế giới. Không có một hệ thống tư tưởng nào đã tuyên giảng như vậy.” (Tiếng vọng từ Núi Kaya - tuyển tập những bài văn Phật giáo của Triều Tiên, Đại sư Song-chol [1912-1993])
Đạo Phật tự tin vào trí tuệ và bi trí dũng cùng với tinh thần kim cang vô úy, không dựa trên ích lợi cá nhân, hay tôn sợ thần quyền.
Ngược lại, các tôn giáo thờ Thần – Thần phù hộ ta gọi là thần. Cùng một thần mà trở lại hãm hại ta, gọi là quỷ. Những quỷ thần thiện ác, tuy hai là một, ngáo ộp này, được các giáo sĩ gian tà, dựa vào sự sợ hải của nhân loại, lòng tham sân si, ích lợi cá nhân, để hăm thưởng, dọa phạt. Những tôn giáo này dựa vào sự van xin, cầu nguyện được che chở, ban ân, tha tội và cứu rỗi ... Tín đồ mù quáng, không thấy mà phải tin, phải dâng cả linh hồn, công sức, đến tài chánh cho giáo hội để được cứu rỗi, lên thiên đường sau khi chết. Không thì sẽ bị đọa đày xuống địa ngục cùng với ngoại đạo, ‘không thấy không tin.’
Những kẻ ngu muội, không thấy mà tin này, bị bọn giáo sĩ lưu manh hăm dọa, dụ dổ thiên đường mù, địa ngục ma, để bắt tín đồ phải tuyệt đối tin tưởng một cách cuồng tín. Con ‘chien’ phải sống trong mặc cảm, và tội lỗi của tổ tông tạo ra. Nhân sinh phải bị gánh vác đời đời tội tổ tông, phải sợ hải, và tôn kính đấng quyền năng. Nhân loại, vì bổn tính yếu hèn, nên tin vào những quỷ thần nhân tạo đó. Chúng tín đồ sợ tưởng những quỷ thần đó có quyền lực tuyệt đối trên nghiệp căn của chính họ.
Đức Phật dạy về ‘luật vũ trụ như thị’ chứ Ngài không sáng tạo ra những luật Nhân Quả, Thập Nhị Nhân Duyên, … Ngài là kẻ đã tự tìm ra con đường để chiến thắng những luật như thị đó. Tuy nhiên, Ngài không có quyền thưởng thiện, phạt ác, cứu rỗi thiên đường hay đọa đày địa ngục.
Bởi vì, con người đã, đang và sẽ luân hồi, sinh sống, bệnh hoạn, lão tử, khoái lạc, trên thiên đường trần thế, và đồng thời đau khổ trong địa ngục trần gian. Cho nên, ngóng mộng thiên đường vật chất hay sợ hãi địa ngục sau khi chết. Tất cả chỉ là điên đảo mộng tưởng hay sợ hãi cái ngáo ộp.
Đây chính ra lý do tôn giáo nhân tạo, cúng tế thần linh, cầu nguyện, xuất hiện trên thế gian, và bành trướng mạnh mẽ trong lòng quần chúng. Những cái tôn giáo vẽ bán “của trời mây nước trăng vô tận” này cho chủ đích quyền lực của giáo hội, và thịnh vượng của tập đoàn.
Không phải tôn giáo, giáo hội nào, cũng tốt như nhau cả, và dĩ nhiên không phải tất cả các đạo giáo, và tập đoàn nào cũng đều xấu như nhau cả. Nhưng tất cả đều đồng khác biệt – same difference.
Tất cả tôn giáo, giáo hội quyền lực, giàu có với nhiều tín đồ nhất thế giới, đều là một trong thành phần của những thế lực ngầm, Deep state, từ lúc còn phôi thai từ những con thú biết đi bằng hai chân. Bởi tiến hóa, nhân sinh phát triễn trí thông minh, biết tham sân si, tích tụ tư hữu, biết hợp đoàn, tổ chức chính quyền, nhân tạo tôn giáo, phát minh tiền bạc, và kinh tế tài chánh. Nhất là biết phân biệt mình là ‘nhân loại, sinh thượng đẳng’ so với chúng súc sinh, và thảo mộc trên trái đất. Tiền bạc là huyết mạch luân lưu (currency) của con người, của gia đình, của đất nước, là của tất cả những quốc gia trên thế giới.
Cho nên, chúng ta (tả khuynh, hữu khuynh, chân ngụy, thiện ác) đều phải biết, chọn mặt mà gởi vàng… cho một ngân hàng duy nhất trên thế giới. Đó là chủ nhân ngầm, ‘virtual deep state,’ tập đoàn sáng tác ra thượng đế, và công nhận thượng đế. Tổ chức ngầm ‘control’ thế quyền, giáo quyền, dân quyền trên thế gian. Không chừng Deep State này còn controls thượng đế cùng tất cả các chính quyền, đất đai trên thiên đàng, và giáo hội dưới địa ngục. Cho nên, đừng tưởng bở, chết rồi là giải thoát khỏi Deep State.
In ‘god,’ you trust. In ‘Money,’ we trust.
Kẻ dại, vì không thỏa mãn lòng tham, đau khổ vì bệnh lão, và nhất là sợ hãi cái chết, cầu mong thiên đường vĩnh cữu sau khi chết. Cho nên, đa số nhân loại đều tin tưởng vào thượng đế với quyền năng tuyệt đối, dựa dẫm vào tôn giáo, và phục tùng giáo hội .
Ngược lại, kẻ khôn vì quyền lợi nên tin vào tiền bạc, và khả năng của chính mình. Bởi vì, có tài thì thành công, có tiền mua thượng đế. Kẻ khôn thường thành công. Kẻ ác sống lâu hơn, kẻ hiền chết sớm. Kẻ ngu thường thất bại. Trừ khi may mắn.
Lịch sử nhân loại đã chứng minh, thế quyền, và giáo quyền luôn hợp tác với nhau để cai trị dân. Hai thế lực cường quyền và bạo quyền này khi thì hợp tác, khi thì tranh dành quyền lực, là nỗi lo sợ, điều tối ư nguy hiểm cho tự do, an ninh và quyền lợi của dân chúng.
Tổ quốc phụ Hoa Kỳ đã “kinh qua,” tiên kiến, và tiên liệu những điều này. Cho nên, Hiến pháp Hoa Kỳ đã minh bạch trong việc tách rời giáo quyền ra khỏi chính quyền. Vì vậy, chữ “God” không có trong hiến pháp của Hoa Kỳ, không phải là điều thiếu sót ngẫu nhiên.
Điều này cho thấy những tổ tiên của tổ quốc Hoa Kỳ, quốc phụ James Madison đã cực kỳ thông minh, rất tế nhị, và rất khôn khéo khi Ngài không đề cập đến God, hay tôn giáo nào trong Hiến Pháp Hoa Kỳ.
Có thể, đó cũng chính là lý do tại sao chúng ta dịch nước Mỹ đẹp mỹ miều là Hiệp Chủng Quốc – quốc gia hòa hợp chủng tộc – United States of America (U.S.A.)
Đây có thể là lối dịch ra nghĩa Việt hay nhất. Tuy nhiên, không nên cái gì cũng ‘dịch ẩu tả.’ Rồi lại làm cho nó tệ hơn bằng cách, ‘Việt Nam hóa’ phiên âm. Đây là tập tục ‘rất xấu xa’ của văn hóa Trung Hoa, mà Việt Nam đã bị “đồng hóa” những hủ tục đó bởi ngàn năm đô hộ giặc Tàu.
“Knowledge will forever govern ignorance; and a people who mean to be their own governors must arm themselves with the power which knowledge gives.” – James Madison
“Stand up and waive if you have read the US Constitution. Make sure you read that section about “God.” If you look, “God” is not mentioned in the Constitution. And there is a good reason for that omission.
“…When Madison drafted the Constitution he left out the term “God” since he wanted no part of religious intolerance and bloodshed, and established the first government in history to separate church and state.”
(GOD IS NOT A PART OF THE CONSTITUTION FOR A REASON, On Behalf of Paul A Ksicinski Attorney at Law | Jul 1, 2020 | Firm News)
https://www.paulksicinskilaw.com/blog/2020/07/god-is-not-a-part-of-the-constitution-for-a-reason/
Trong khi, Hiến Pháp Hoa Kỳ đã không đề cập đến Thượng Đế (God, Dieu,) gần như hầu hết những hiến pháp tiểu bang dẫn chứng tới Thượng Đế hay Trời (God or the divine.)
“While the U.S. Constitution does not mention God, nearly all state constitutions reference either God or the divine, according to a 2017 analysis. God also appears in the Declaration of Independence, the Pledge of Allegiance and on U.S. currency. Jul 5, 2022”.
(is there any god word in there us constitution - Google Search)
Hiến Pháp Hoa Kỳ không có nhắc chữ Thiên Chúa (Christianity) hay chỉ rõ bất cứ tôn giáo nào.
Dĩ nhiên, hồi đó đa số hiểu rằng đó là Thiên Chúa (Jesus Christ.)
Danh từ “Đấng Sáng Tạo,” và “Thiên Nhiên, Trời,” trong bản Tuyên Ngôn Độc Lập, không có chỉ định rõ là ai.
Đây cũng là điểm trùng hợp giữa Phật Giáo và Tổ Quốc Phụ của Hiến Pháp Hoa Kỳ. Đức Phật không chấp nhận hay phủ nhận thượng đế. Ngài chỉ không có giảng về “sáng tạo,” thay vì, “duyên khởi.”
Đức Phật cũng là một khoa học gia, Ngài không muốn chứng minh cái Vô Nhất Vật. Vì khi đã thấy được cái vô nhất vật, thì nó không còn là vô nhất vật nữa.
Đó là điều hiển nhiên. Thiết nghĩ, tôi không cần phải chứng minh, Đức Thế Tôn đã kiến giác Tánh Không.
The U.S. Constitution doesn't mention Christianity or any specific religion. The Declaration of Independence famously proclaims that people's rights come from a “Creator” and “Nature's God” — but doesn't specify who that is.Feb 17, 2024”
(is there any Christian's god word in there us constitution - Google Search)
Như Đại Đế Napoleon đã nói: Con người, sở dĩ đoàn kết lại với nhau vì quyền lợi và sợ hải.
“Men are moved by two levers only: fear and self-interest.” Napoleon Bonaparte
Franklin D. Roosevelt nói: Thần hồn nhát thần tính.
“The only thing we have to fear is fear itself.” Franklin D. Roosevelt
Đức Phật nói: Kẻ trí không sợ chết.
“Even death is not to be feared by one who has lived wisely.” Buddha
Người dân ở trên đe dưới thớt, với thế bạo quyền hay/và giáo gian quyền, khôn cũng chết, mà dại cũng chết. Người Bolivia, “dân ngu cu đen,” suốt đời sống dưới những chính phủ độc tài, và những cha cố gian tà có câu ngạn ngữ – thà làm con gà hèn nhát, ngu dốt mà được sống, còn hơn làm kẻ thông minh, anh hùng … chết.
Chết là chết, không có ma anh hùng hay ma hèn nhát.
However, “Death Is Nothing At All.”
Dĩ nhiên, những lý luận nhị nguyên trên đây chỉ là tương đối. Chúng ta không biết chúng ta không biết, cái không biết. Cho nên chúng ta tưởng chúng ta biết, cái chúng ta biết, cái biết.
Thấy như vậy, nghe như vậy, viết như vậy, và đọc như vậy, chứ không phải nó như vậy. Như vậy, đừng nghĩ như vậy, đừng tưởng như vậy, đừng tin như vậy … là “như thị ngã văn” như vậy.
Hình ảnh thêm về Giáo Quyền và Thế Quyền