LỤC TỔ PHÓ CHÚC
VÀ VIÊN TỊCH
Toàn Không
MỤC 1: LỤC TỔ CHO XÂY THÁP VÀ PHÓ CHÚC:
Một hôm, Lục-Tổ Huệ-Năng gọi các đệ-tử đến như: Pháp-Hải, Chí-Thành, Pháp-Đạt, Thần-Hội, Trí-Thường, Trí-Thông, Chí-Triệt, Chí-Đạo, Pháp-Trân, Pháp-Như v.v. mà dặn dò cách duy trì và truyền bá Phật-Pháp.
Đến tháng tám năm Nhâm-Tý (là năm 712 Dương Lịch), Ngài sai môn đồ đến Quốc-Ân-Tự nơi Tân-Châu để xây tháp, đốc thợ làm gấp cho mau xong; đến mùa hè năm sau Ngài đến khánh thành tháp.
Năm sau, tới ngày mồng một tháng bẩy năm Quý-Sửu (là năm 713 DL), Ngài tụ tập đồ chúng lại mà bảo rằng: “Đến tháng tới ta sẽ rời thế-gian, từ nay tới ngày đó các ngươi có gì nghi cứ hỏi, ta sẽ phá nghi cho để các ngươi hết mê hoặc”.
Các môn đồ nghe Ngài nói thảy đều rơi lệ, chỉ có Thần-Hội bình tĩnh chẳng động cũng chẳng rơi lệ, Ngài thấy thế nói: “Chỉ có thầy Thần-Hội được sự thiện bất thiện đồng nhau, khen chê chẳng động, buồn vui chẳng sinh, ngoài ra các người khác chẳng được; ở núi bấy lâu nay các ông hành đạo gì, nay các ông rơi lệ là lo buồn cho ai? Nếu nói lo buồn cho ta chẳng biết đi về đâu, ta tự biết chỗ đi; nếu chẳng biết chỗ đi, làm sao báo cho các ông biết trước mà chuẩn bị như thế này?”
Biết rằng Lục-Tổ chẳng còn ở lại thế gian bao lâu nữa, Thượng Tọa Pháp-Hải làm lễ Ngài mà hỏi rằng:
- Sau khi Hòa-Thượng nhập diệt rồi, Áo-Pháp sẽ truyền cho ai?
Ngài nói:
- Các lời ta thuyết pháp từ lúc ở Chùa Đại-Phạm đến ngày nay phải biên chép lại mà lưu hành và phải để nhan đề là “Pháp-Bảo-Đàn Kinh”. Các thầy mỗi người một phương mà truyền thọ hóa độ chúng-sinh, hãy y theo lời Kinh này mà nói, ắt là chính Pháp. Nay ta nói pháp mà chẳng giao cái áo Cà-Sa cho ai, là bởi cái tín căn của các thầy đã thuần thục, chắc chắn không nghi, đủ sức kham nhậm việc lớn. Lại như ý bài kệ của Sơ-Tổ Đạt-Ma để lại và lời dặn dò của Ngũ-Tổ, thì Áo-Bát chẳng nên truyền nữa.
Tổ-Sư nói tiếp:
- Mỗi người phải tịnh tâm nghe ta nói pháp, muốn thành tựu trí Phật thì phải đạt đến cảnh nhất tướng tam-muội, nhất hạnh tam-muội.
Đối với cả thảy các nơi chỗ mà tâm chẳng trụ vào các hình tướng, trong các tướng ấy chẳng sinh lòng phân biệt yêu ghét, cũng không chấp bỏ, chẳng tưởng đến việc lợi hại nên hư, một mực an nhiên điềm tĩnh, ấy là nhất-tướng tam muội.
Đối với cả thảy lúc đi đứng nằm ngồi phải ròng một lòng ngay thẳng thật thà, chẳng động đạo tâm, phải thật lòng trong sạch, ấy gọi là nhất-hạnh tam muội.
Nếu người nào có đủ hai thứ chính-định này, như gieo giống dưới đất, luôn luôn tưới nước bón phân chăm sóc, cuối cùng được qủa chín, nhất-tướng nhất-hạnh cũng vậy. Nay ta nói pháp, dụ như mưa thấm cả mặt đất, Phật tánh của mỗi người giống như hạt giống, gặp nước mưa thấm nhuần liền được nẩy mầm sinh trưởng. Nối theo Tông chỉ của ta, quyết thành Bồ-đề, hành theo pháp của ta, ắt chứng diệu qủa, hãy nghe ta kệ:
Tâm địa bao gồm các giống lành,
Mưa chan khắp thấm mộng đều sinh,
Tình bông bản tánh mình liền hiểu,
Trái quý Bồ-đề tự kết thành.
Tổ-Sư dạy tiếp:
- Pháp vốn không hai, tâm mình cũng vậy, Đạo là trong lặng không có các tướng, nhưng cẩn thận chớ “trầm không quán tịnh” là đừng đắm vào không mà xem cảnh tịnh. Tâm vốn thanh tịnh chẳng lấy bỏ được, mỗi người tuỳ duyên mà đi, hãy cố gắng tu hành.
Đệ-tử lại hỏi:
- Xin Đại-Sư chỉ dạy cái chính Pháp-Nhãn-tạng sẽ truyền cho ai?
Ngài đáp:
- Người có đạo tâm sẽ được cái Pháp ấy, người vô tâm thì thông hiểu.
Ngày mồng tám tháng bẩy năm Qúy Sửu (năm 713 DL), Tổ-Sư bảo các đệ tử:
- Ta muốn về Tân-Châu, hãy sửa soạn thuyền cho ta.
Đại chúng nghe Lục-Tổ nói như thế đều buồn thảm và muốn giữ Ngài ở lại, Tổ-Sư nói:
- Chư Phật ra đời rồi cũng vào Niết-Bàn, có lại ắt có đi, lẽ ấy cũng là thường vậy.
Chúng nhân thưa rằng:
- Hòa-Thượng đến Tân-Châu, sớm muộn xin Ngài hãy trở lại.
Tổ-Sư nói:
- Lá rụng về cội, lúc ta đến đây không có nói gì, trở lại đây ta chẳng nói.
Chúng nhân hỏi tiếp:
- Xin Tổ cho biết sau này có tai nạn chi không?
Tổ cho biết:
- Sau khi ta tịch khoảng chín năm sẽ có người đến lấy đầu ta, hãy nghe ta thọ ký bằng kệ:
Dốc lòng thờ kính giống cha lành,
Vì đói phải toan kế lợi mình,
Tịnh-Mãn gian nhân lâm khổ nạn,
Hai quan Dương Liễu xử phân rành.
MỤC 2: LỤC TỔ DẶN BẢO VÀ VIÊN TỊCH:
Ngày mồng ba tháng tám năm Quý-Sửu (là năm 713 DL), tại Chùa Quốc-Ân, sau khi mọi người dùng trai, dọn dẹp xong, Tổ Huệ-Năng bảo đại chúng:
- Mỗi người hãy thứ tự mà ngồi, để ta từ biệt.
Thầy Pháp-Hải thưa:
- Xin Hòa-Thượng cho biết: Ngài lưu lại giáo-pháp nào khiến người mê đời sau được thấy Phật tánh?
Ngài nói:
- Mỗi người hãy lắng tâm nghe cho rõ, những người phàm phu mê muội đời sau, nếu biết cái tâm chúng-sinh (là biết tâm tham sân si, yêu ghét, ganh tỵ, ngã mạn, v.v.) thì sẽ thấy được Phật tánh. Còn chẳng biết cái tâm chúng-sinh thì muôn kiếp tìm Phật e khó gặp.
Nay ta dạy: mỗi người phải biết chúng-sinh ở tâm mình, thì sẽ thấy Phật tánh ở nơi tâm mình, vậy muốn cầu thấy Phật phải biết cái tâm chúng-sinh (mà từ bỏ nó). Chỉ vì tâm chúng-sinh làm lu mờ Phật tánh, chớ chẳng phải Phật tánh làm mê muội tâm chúng-sanh. Nếu tâm tánh mình tà hiểm, Phật ở trong chúng-sinh, nếu tâm tánh mình bình đẳng ngay thật, chúng-sinh thành Phật. Tâm ta tự có Phật, Phật ở tâm mình mới thật là chân Phật Nếu tự mình không có Phật, tìm Phật ở nơi nào?
Thật ra cái tự tâm của mỗi người là Phật, chớ có nghi ngờ, và phải luôn luôn nhớ như vậy. Thực sự, ngoài cái tâm không có một vật gì tạo ra được, mà chính cái bản tâm sinh ra muôn pháp (muôn vật), cho nên Kinh nói: “Tâm sinh thì muôn giống pháp đều sinh, tâm diệt thì muôn giống pháp đều diệt”.
Ngài lại bảo:
- Mỗi người phải tự hộ trì, sau khi ta viên tịch, chớ nên theo tình chấp thế-gian mà rơi lệ khóc than, buồn rầu nhớ thương, không nên nhận phúng điếu, chớ nên để tang, làm như thế chẳng phải đệ-tử của ta, cũng chẳng phải chính-pháp. Chỉ nên hiểu bản tâm thấy bản tánh chẳng động chẳng tịnh, chẳng sinh chẳng diệt, chẳng tới chẳng lui, chẳng thị chẳng phi, chẳng trụ chẳng đi. Vì e một số người tâm mê chẳng hiểu hết ý ta nên nhắc lại mà thôi.
Sau khi ta viên tịch, theo những gì ta đã dạy mà tu hành, nếu trái lời, dẫu cho ta còn tại thế cũng đâu có ích gì. Và ta sẽ nói bài kệ sau cùng để từ biệt mọi người, từ biệt thế-gian:
An nhiên tự tại vẫn không tu,
Siêu thoát ác duyên hẳn bỏ từ,
Lẳng lặng dứt trừ nghe thấy hết,
Phẳng bằng tâm địa tự như như.
Nói kệ xong, Lục-Tổ ngồi ngay thẳng, từ từ nhắm mắt im lặng, đến canh ba nửa đêm, gọi đệ-tử mà bảo rằng: “Ta đi đây”.
Rồi Ngài thiện hóa, khi ấy mùi thơm xông khắp đầy Chùa, mống bạc vòng cầu trong đêm sáng ngời, rừng cây biến ra màu trắng, cầm thú kêu vang. Lúc đó vào nửa đêm ngày mồng 3 tháng 8 năm Quý-Sửu (là năm 713 Dương Lịch).
Ba tháng sau, tức ngày mồng 3 tháng 11 cùng năm, các Quan-chức và Tăng-tục ba tỉnh Quảng-Châu, Thiều-Châu và Tân-Châu đòi rước nhục thân Tổ-Sư. Vì lẽ đó nên cùng nhau đốt hương khấn vái nguyện rằng: “Khói hương bay về đâu thì sẽ rước nhục thân Ngài về đó”. Lúc ấy đang không có gió, sau khi khấn vái xong, gió nổi lên, mọi người đều trông thấy khói hương bay về hướng Tào-Khê thuộc Thiều-Châu. Do đó mười ngày sau, tức ngày 13 tháng 11, đồ chúng ba tỉnh rước Thần-khám (là Tháp để ngồi thiền), Nhục-thân Tổ-Sư, và Áo-Bát về xứ Tào-Khê, tỉnh Thiều Châu (Nay là Huyện Thiều Quan, tỉnh Quảng Đông).
Năm sau, ngày 25 tháng 7 năm Giáp-Dần (là năm 714 DL), các môn-đồ mở Thần-khám ra, Nhục-thân Ngài vẫn ngồi như lúc còn sống. Đệ-tử là Phương-Biện lấy bột thơm trải trên thân Ngài. Thị-giả coi Tháp nhớ lời Ngài thọ-ký về việc có kẻ sẽ lấy trộm đầu Ngài, nên dùng lá sắt mỏng và bố dầu bao chặt cổ Tổ-Sư rồi để vào Tháp; thình lình trong Tháp có luồng ánh sáng trắng hiện ra xông lên hư không tới ba ngày mới tan hết.
Quan Thiều-Châu làm sớ tâu Vua và dâng sắc-chỉ dựng bia ghi đạo-hạnh của Ngài như sau:
“Tổ-Sư Huệ-Năng 76 tuổi viên tịch, năm 24 tuổi được truyền Áo-Pháp, năm 39 tuổi xuống tóc, thuyết pháp độ-sinh 37 năm, người đắc Tông-chỉ nối pháp được 43 vị, người nghe pháp ngộ đạo vô số chẳng biết bao nhiêu mà kể. Còn cái áo Cà-Sa do Tổ Đạt-Ma truyền xuống, cái áo Ma-Nạp và cái Bảo-bát do Vua Trung-Tôn cúng dàng, cùng chân-tượng của Tổ do Phương-Biện Thiền-Sư đắp, và tọa-cụ của Ngài, thảy đều giao cho Thị-giả giữ Tháp, đời đời thờ nơi Chùa Bảo-Lâm; ngoài ra còn lưu truyền Pháp-Bảo-Đàn-Kinh để hiển bày Tông-chỉ, hưng thịnh Tam-Bảo, phổ biến lợi ích chúng-sinh”.
MỤC 3: KẺ TRỘM ĐẦU LỤC TỔ:
Chín năm sau, ngày 3 tháng 8 năm Nhâm-Tuất (là năm 722 DL), nửa đêm thình lình nghe trong Tháp có tiếng kéo dây sắt, có vị nghe thấy la lên, chúng Tăng hoảng kinh thức dây, thoáng thấy một người mặc đồ tang trắng từ trong Tháp chạy ra và trốn khỏi. Chúng Tăng đốt đèn vào Tháp xem thấy chỗ cổ của Tổ bọc lá sắt mỏng cuốn bố dầu có dấu cắt.
Chúng Tăng bèn đem việc ấy cáo với Châu-Huyện, Quan Tỉnh Liễu-vô-Thiểm và Quan Huyện Dương-Khảo khi hay tin liền cho gia công tìm kiếm kẻ gian.
Năm ngày sau bắt được kẻ ấy đang chạy trốn đến làng Thạch-Giác, giải lên Huyện, Quan Huyện Dương-Khản cho giải lên Tỉnh Thiều-Châu. Tại Tỉnh, Quan Liễu-vô-Thiểm cho xét hỏi.
Kẻ ấy khai họ Trương tên Tịnh-Mãn, ngụ tại Huyện Lương xứ Như-Châu. Vì nghèo đói nên đã hứa nhận 20,000 tiền của Thầy Tăng nước Tân-La tên là Kim Đại-Bi ở Chùa Khai-Ngân xứ Long-Châu, để làm nhiệm vụ đi lấy đầu Tổ-Sư đem về Hải-Đông cúng dường.
Quan Liễu Thái-Thú nghe lời cung khai, chưa vội gia hình, bèn thân hành đến Tào-Khê viếng thầy Linh-Thao là Thị-giả coi Tháp Tổ-Sư và hỏi coi phải xử như thế nào cho phải lẽ.
Thầy Linh-Thao đáp:
- Nếu lấy Quốc-pháp mà luận lẽ phải là trọng tội, còn lấy sự từ-bi của Phật-pháp dù kẻ thù người thân đều xem bình đẳng, huống chi kẻ kia làm như vậy chỉ muốn cầu cúng dường vậy tội ấy nên tha.
Quan Liễu Thái-Thú lấy làm vui mừng khen: “Thế mới biết: cửa Phật là rộng lớn bao la vô cùng tận”.
Rồi Quan trở về ban lệnh tha cho tội nhân mà không tái phạm. Khi ấy, mọi người đều thấy Lục Tổ thọ ký trước khi tịch diệt là hoàn toàn chính xác.
Đến đời Vua Túc-Tôn nhà Đường sai sứ đến Tào-Khê thỉnh Áo-Bát của Lục-Tổ về Kinh để kính lễ, sau đến đời Vua Đại-Tông nhà Đường, nằm chiêm bao thấy Lục-Tổ đến đòi Áo-Bát, Vua liền truyền lệnh cho Quan Thứ-Sử Dương-Giám và Trấn-Quốc Đại-Tướng-Quân Lưu sùng Cảnh đưa Áo-Bát ấy về Tào-Khê, và Vua ban chỉ:“Áo-Bát của Lục-Tổ là vật Quốc Bảo, cần phải được chúng Tăng giữ gìn cẩn thận, chớ để thất lạc” Thế mà về sau lại có người trộm Áo-Bát của Tổ-Sư, nhưng đem đi chẳng lâu xa, bị mất bốn lần rồi cũng tìm lại được cả.
Hiện tại, sau 1309 năm, Lục Tổ Huệ Năng thờ tại Nam Hoa Thiền Tự, thị trấn Tào Khê, huyện Thiều Quan, tỉnh Quảng Đông. Nhục thân của Ngài vẫn ở trong tư thế ngồi thiền ngay thẳng như lúc viên tịch.
MỤC 4: SỰ TRUYỀN THỪA CỦA LỤC TỔ HUỆ NĂNG:
Như đã nói, môn đồ của Lục-Tổ có 43 vị đắc Pháp, mỗi vị hóa độ một phương đều là chính thống.
Trong đó, Nam-Nhạc Hoài-Nhượng, Thanh-Nguyên Hành-Tư, và Hà-Trạch Thần-Hội là nổi bật nhất.
1- Phái Nam-Nhạc của Hoài-Nhượng Thiền-Sư, một trong số đệ-tử chính của Thiền-Sư là Đạo-Nhất Thiền-Sư, họ Mã, đó là Mã-Tổ nối truyền Chính-Pháp, hóa độ chúng-sanh vô số kể, đệ nhất nổi tiếng của phái Nam-Nhạc. Mã-Tổ được lời sấm truyền rằng: “Vó ngựa (Mã) chà đạp vô số người trong thiên hạ”, ý nói phái này tiếp dẫn người học đạo đặc biệt và tạo được vô số người đạt đạo, của Thiền Sư Mã Tổ Đạo Nhất. Ngài Mã-Tổ chủ hóa ở vùng Giang-Tây, Trung Hoa, sau này phái Nam-Nhạc lập ra hai dòng Lâm-Tế và Quy-Ngưỡng.
2- Phái Thanh-Nguyên của Hành-Tư Thiền-Sư, có một trong số đệ-tử là Thạch-Đầu Thiền-Sư là nổi tiếng bậc nhất, có tiếng là “Thạch-Đầu đường trơn” thì dễ ngã té nhào, để chỉ cho cơ phong sắc bén và phong cách tiếp dẫn người học, của thiền sư Thạch Đầu Hi Thiên. Ngài Thạch Đầu chủ hóa ở Hồ-Nam, Trung Hoa, sau này phái Thanh-Nguyên lập ra ba dòng Vân-Môn, Pháp-Nhãn, và Tào-Động.
3- Phái Hà-Trạch của Thần-Hội Thiền Sư, truyền đến hết đời thứ sáu là Tông-Mật Thiền-Sư, thì thất truyền.
Còn lại Năm dòng, cũng gọi là năm nhà là Lâm-Tế, Quy-Ngưỡng, Vân-Môn, Pháp-Nhãn, và Tào-Động, truyền mãi xuống về sau này, đến cả các nước lân bang như Cao Ly, Nhật Bản, Việt Nam.
Cội nguồn từ Lục-Tổ truyền xuống Năm dòng như thác đổ, có vô số người đạt đạo. Mỗi dòng có tác phong riêng để tiếp dẫn hậu học, nhưng không ngoài mục đích của Thiền-Tông là minh-tâm kiến-tánh, và đều lấy Niêm Hoa Thị Chúng của Phật Thích-Ca làm kim chỉ nam.
Hình ảnh thêm về LỤC TỔ PHÓ CHÚC VÀ VIÊN TỊCH