Ngài Huệ-Năng họ Lư, sinh năm 637 tại xứ Phạm-Dương bên Trung-Hoa, cha làm quan bị giáng chức đầy tới Lãnh-Nam làm thứ dân tại Tân-Châu, rồi mất sớm. Từ khi ấy, Ngài còn rất trẻ, không được đi học như các trẻ khác, mà phải ngày ngày vào rừng kiếm củi, đem đến chợ bán, lấy tiền nuôi mẹ, nuôi thân, thật là khổ cực. Nên nhìn thân hình ngài đen gầy, quê mùa.
MỤC 1: HUỆ NĂNG ĐỐN NGỘ
Tới khi 24 tuổi, một hôm có người mua củi bảo Huệ-Năng đem củi đến nhà, khi đem củi đến, khách nhận củi trả tiền, ngài nhận tiền xong, liền bước ra khỏi cửa. Lúc đó bỗng nghe tiếng tụng kinh câu: “Ưng vô sở trụ nhi sinh kỳ tâm” (là không đặt để tâm vào bất cứ cái gì, thường hay sinh ra tâm tánh kỳ đặc), tự nhiên tâm ngài liền mở mang sáng tỏ khác thường. Ngài liền quay lại tìm hỏi người tụng kinh, mới được biết rằng đó là một câu trong Kinh Kim-Cang thỉnh tại Chùa Đông-Thiền do Ngũ-Tổ Hoằng-Nhẫn Đại-Sư chủ hóa và dạy trì tụng. Ngài liền muốn đi cầu Pháp nơi Ngũ Tổ, nhưng ngặt vì còn mẹ già phải nuôi dưỡng.
Sau nhờ nhân duyên, nên Huệ-Năng lại được người giúp đỡ tiền bạc để yên bề mẹ già mà an tâm đến Chùa Đông-Thiền.
Đi bộ gần hai tháng thì tới nơi, ngài đến làm lễ Ngũ Tổ, Ngũ Tổ hỏi:
- Ngươi là người phương nào, cầu việc chi?
Huệ Năng đáp:
- Con là dân Tân-Châu, xứ Lãnh-Nam, ở phương xa tới đây lạy Tổ-Sư, chỉ cầu thành Phật, chẳng cầu việc chi khác.
Ngũ tổ nói:
- Ngươi là người xứ Lãnh-Nam, là giống dã man, thành Phật thế nào được.
Ngài nói:
- Con người tuy phân có Bắc Nam, cái thân dã man này đối với Đại-Sư tuy chẳng giống nhau, chứ cái tánh Phật nào có khác chi?
Lúc ấy Ngũ Tổ thấy đại-chúng vây quanh, nên bảo:
- Ngươi theo chúng xuống nhà dưới làm việc.
Nhưng Ngài gặng hỏi thêm:
- Chẳng hay Hòa-Thượng còn dạy làm công việc gì nữa? Vì tự tâm con thường sinh trí-tuệ, chẳng lià tự tánh tức là có phước-điền rồi.
- Căn tánh của người dã man này thật là sáng suốt, chớ nên nói nữa, hãy đi ra nhà sau làm công việc đi.
Nghe Ngũ Tổ dạy thế, Huệ-Năng liền đi ra nhà sau, thì có một Cư-sĩ sai ngài phụ trách công việc chẻ củi, giã gạo. Nhận những công việc nặng nhọc ấy, ngài kiên nhẫn làm việc, vì đà từng làm việc cực nhọc quen rồi. Trải qua gần chín tháng như thế, Ngài không hề phàn nàn than thở với ai.
Một lần Ngũ Tổ gặp Ngài và bảo:
- Ta nghĩ chỗ tri-kiến của ngươi dùng được, nhưng e có kẻ ác hại ngươi, nên ta chẳng nói chuyện, ngươi có biết chăng?
Ngài Huệ-Năng đáp:
- Con cũng hiểu ý Tổ-Sư, nên chẳng dám đến trước cửa phòng của Tôn-Sư, để mọi người khỏi nghi ngờ.
MỤC 2: NGŨ TỔ CHUẨN BỊ TRUYỀN NGÔI TỔ:
Một hôm, Ngũ Tổ bảo mọi người tụ lại mà dạy rằng:
- Ta nói cho đại chúng rõ, sự sống chết của người đời là việc lớn, các ngươi suốt ngày chỉ cầu phúc điền chứ chẳng cầu ra khỏi biển khổ sống chết, nếu tánh mình mê muội, phúc nào cứu được?
Mỗi người hãy tự xem trí-tuệ mình, lấy tánh Bát-nhã của bản tâm mình, mà làm một bài kệ, trình cho ta xem.
Nếu ai hiểu đại ý, ta sẽ truyền Y-Pháp cho, mà làm Tổ thứ sáu, nối Huệ-mạng Phật. Vậy các ngươi hãy đi làm kệ cho mau, chớ nên chậm trễ.
Lúc ấy mọi người tự thấy rằng họ chẳng có khả năng chức vị ấy, vì qúa tầm hiểu biết của họ, họ nghĩ và bàn tán rằng: “Chỉ có Thượng-Tọa Thần-Tú là thầy-giáo thọ, thường thay mặt Tổ-Sư thuyết pháp, là người xứng đáng mà thôi”.
Riêng Thượng-Tọa Thần-Tú tự biết chưa thấy tâm tánh, nên rất ngại viết kệ trình lên, nhưng nếu ông không trình kệ coi cũng không được. Ông tự xét nếu trình kệ để cầu Pháp còn tạm ổn, nhưng trình kệ để cầu làm Tổ thật không xứng chút nào. Cuối cùng, ông cũng làm xong bài kệ, muốn trình lên Ngũ-Tổ, nhưng mỗi lần đến trước cửa nhà Tổ, lại nghĩ chẳng nên trình kệ.
Trước sau nhiều lần trong bốn ngày, tâm thần hoang mang. Sau ông nghĩ: “Chỉ còn cách viết bài kệ trên vách tường, nếu Ngũ-Tổ khen hay ta hãy nhận là của mình, còn nếu không thì uổng công tu hành bấy lâu nay”. Nghĩ rồi, đêm ấy, ông cầm đèn viết vội bài kệ lên tường phiá Nam nhà Nguyện như sau:
Thân ấy Bồ-Đề thọ,
Tâm như minh-cảnh đài,
Giờ giờ cần phủi sạch,
Chớ để dính trần ai.
Sáng hôm sau, Ngũ-Tổ dẫn Lư-cung-Phụng đến chỗ vách tường ấy định cho vẽ cảnh đức Phật thuyết pháp tại hội Lăng-Già.
Khi thấy bài kệ ấy trên tường, Ngài nói:
- Này Quan Lư, thôi không cần vẽ nữa, để bài kệ ấy cho người trì tụng tu hành được khỏi đọa đường ác, có lợi ích lớn, thật là nhọc công Quan từ xa tới đây.
Rồi Ngũ-Tổ gọi các đệ tử đến và dạy phải đốt hương lễ tụng niệm bài kệ, sẽ được nhiều lợi ích, bấy giờ mọi người đều khen kệ hay. Tối hôm ấy, Ngũ-Tổ cho gọi Thượng-Tọa Thần-Tú đến và hỏi:
- Có phải bài kệ ấy do thầy làm không?
- Vâng, bài kệ ấy do con viết, nhưng con chẳng dám cầu ngôi Tổ, chỉ mong Hòa-Thượng từ-bi xem coi con có chút trí-tuệ nào không?
Ngũ Tổ nói:
- Làm bài kệ ấy, thầy tỏ ra chưa thấy bản tánh của mình, chỉ mới tới ngoài cửa mà thôi. Vậy thầy hãy lui về, suy nghĩ thêm một hai ngày nữa để làm một bài kệ khác đem lại cho ta xem, nếu bài kệ vào được cửa Đạo, ta sẽ truyền Pháp, giao bát và áo Cà-Sa cho.
Trải qua mấy ngày Thượng-Tọa Thần-Tú làm kệ không xong, tâm tư bồi hồi, đứng ngồi chẳng yên!
Cũng sau hai ngày, có một Cư-sĩ còn trẻ đi ngang qua phòng giã gạo, đọc tụng bài kệ ấy; Huệ-Năng đang khi giã gạo, nghe qua, rồi ngài hỏi người ấy:
- Nhân-giả tụng bài kệ gì vậy?
Người ấy đáp:
- Người dã man này không biết chi hết sao? Mấy bữa trước đây, Ngũ-Tổ Đại-Sư họp đại chúng lại mà nói rằng: “Mỗi người hãy xem xét trí-tuệ của mình, lấy tánh Bát-Nhã của bản tâm mình mà làm một bài kệ trình cho Ngài xem, nếu ai hiểu được đại ý, Ngài sẽ truyền Pháp, trao bát và áo Cà-Sa cho mà làm Tổ thứ sáu”. Có một bài kệ viết nơi vách tường phiá Nam nhà Nguyện, Ngũ-Tổ dạy: “Mỗi người đều phải đốt hương nhang kính lễ, trì tụng, y theo bài kệ mà tu hành sẽ khỏi đọa vào đường ác, và được lợi ích lớn”.
MỤC 3: NGÀI HUỆ NĂNG THỂ HIỆN ĐÃ TỎ DẤU ĐẠO:
Bấy giờ Huệ-Năng nói:
- Tôi cũng muốn chiêm bái bài kệ ấy để kết duyên đời sau, tôi ở đây giã gạo, bổ củi đã gần chín tháng mà chưa từng đến nhà Nguyện, mong anh dẫn tôi đến chỗ có bài kệ để lễ bái.
Khi hai người ra đến nơi, Huệ-Năng nói:
- Tôi không biết chữ, vị nào đọc bài kệ giùm.
Lúc ấy có quan Biệt-giá tên Trương-nhật-Dung cất tiếng đọc bài kệ, nghe rồi, ngài nói:
- Tôi cũng có một bài kệ vô-tướng, mong ơn quan Thượng-nhân viết giùm.
Thấy ngài quê mùa, quan Biệt-giá nói:
- Ngươi biết làm kệ sao? Việc này hiếm có.
Nghe quan nói khinh miệt, nên ngài trả lời:
- Muốn học đạo Vô-Thượng thì chẳng nên khinh rẻ hàng sơ học, có kẻ bậc thấp, có người bậc cao mà lại chôn vùi ý chí của mình.
Nếu khinh người, ắt có tội vô lượng.
Trương-nhật-Dung nghe Ngài nói có lý, không nói gì được, nên bảo:
- Ngươi hãy đọc đi, ta viết giùm cho, nếu ngươi đắc Pháp, nhớ độ ta.
Huệ-Năng liền lớn tiếng đọc:
Bồ-Đề vốn chẳng thọ,
Gương sáng cũng chẳng đài,
Bản-lai không một vật,
Chỗ nào dính bụi dơ?
Bài kệ vừa viết xong, cả thảy mọi người tại đó đều kinh ngạc, khen hay, và rất lấy làm lạ, nói với nhau: “Lạ thay, người đen đủi quê mùa như thế, lại không biết chữ, mà làm kệ lại xuất thần như vậy!? Chẳng nên xét người bằng diện mạo bề ngoài, bấy lâu nay chúng ta nào biết đã từng khinh rẻ, vị Bồ-Tát xác phàm!”
Khi ấy, Ngũ-Tổ thấy đồ chúng vây bên bức tường nhìn ngó, chỉ trỏ, bàn tán.
Ngài đến coi, thấy bài kệ ấy, biết là của ai làm, Ngài e có kẻ sẽ hại Huệ-Năng, nên Ngũ-Tổ vội lấy giầy chà xóa bỏ bài kệ ấy và nói:
- Bài kệ này chưa thấy tánh.
Đồ chúng vì không hiểu, nên khi thấy Ngũ-Tổ tỏ ra không ưa bài kệ, chà xát đi và nói như thế, mọi người không còn ai nghĩ tới bài kệ ấy nữa.
Hôm sau, Ngũ-Tổ đến nhà bếp, thấy Huệ-Năng mang đá trên lưng mà giã gạo, Ngài nói:
- Người cầu Đạo vì Pháp quên thân, phải như thế sao?
Rồi Ngài hỏi:
- Gạo trắng chưa?
Huệ-Năng liền đáp:
- Thưa Hòa-Thượng, gạo đã trắng từ lâu, chỉ còn thiếu giần sàng (là ý nói đã thấy bản tâm bản tánh, chỉ còn đợi bảo nhậm, truyền Pháp).
Ngũ-Tổ gõ gậy lên đầu cối ba lần, rồi bỏ đi.
MỤC 4: NGÀI HUỆ NĂNG ĐẠI NGỘ, LÃNH Y BÁT VÀ NGÔI TỔ:
Huệ-Năng hiểu Ngũ-Tổ muốn nói gì, nên đợi đến canh ba (12 giờ đêm), Ngài vào thất của Ngũ-Tổ. Vừa thấy Huệ-Năng vào, Ngũ-Tổ lấy áo Cà-Sa khoác vào cho, rồi đọc Kinh Kim-Cang cho nghe. Khi Ngũ-Tổ đọc tới chỗ: “Ưng vô sở trụ nhi sinh kỳ tâm”, đột nhiên Huệ-Năng một lần nữa thấy đột sáng, biết cả thẩy các Pháp đều chẳng lià tánh mình, nên ngài buột miệng thốt ra năm câu kệ:
Nào dè tánh mình vốn không sanh diệt.
Nào dè tánh mình vốn thanh tịnh trong sạch,
Nào dè tánh mình vốn chứa đầy đủ muôn Pháp
Nào dè tánh mình vốn không dao động,
Nào dè tánh mình vốn sinh ra muôn Pháp.
Ngũ-Tổ biết Huê Năng đã tỏ sáng bản tánh, nên nói:
- Nếu biết bản tâm thấy bản tánh, tức là Trượng-phu, là Thầy cõi Người và cõi Trời.
Sau đó Ngũ-Tổ truyền Pháp, trao Bát cho Ngài, và nói:
- Ngươi làm Tổ Thứ Sáu kể từ nay, hãy gìn giữ và nhớ lấy đạo tâm của mình; phải quảng độ chúng-sinh và lưu truyền chính Pháp cho đời sau, đừng để đoạn tuyệt; rồi Ngũ-Tổ nói kệ:
Hữu tình được gieo giống,
Nhân gieo qủa ắt sinh,
Vô tình không có giống,
Vô tánh cũng không sinh.
Ngũ-Tổ căn dặn:
- Từ xưa Chư Phật chỉ truyền cái Bản-lai là cội gốc của các Pháp; Áo Bát là cái mối tranh giành, tới đời ngươi đừng truyền nữa; thôi hãy đi đi cho chóng, kẻo có kẻ hại ngươi.
Bấy giờ đang đêm tối, không thuộc đường đi, nên ngài Huệ-Năng hỏi Ngũ-Tổ:
- Con nên đi đến xứ nào, làm sao con ra khỏi nơi này mà đi?
Ngũ-Tổ nói:
- Chẳng cần lo, để ta dẫn ngươi; khi gặp Hoài (huyện Hoài) nên ở lại, gặp Hội (Huyện Tứ-Hội) phải ẩn nương nơi đó.
Rồi Ngũ-Tổ dẫn Ngài đi đến chỗ cột thuyền và bảo lên thuyền, Ngũ-Tổ đích thân chèo thuyền đưa Ngài đến trạm Cửu-Giang; trước khi từ biệt, Ngũ-Tổ nói:
- Từ nay về sau, Phật-Pháp do ngươi truyền bá; ngươi đi rồi, ba năm sau ta sẽ thị tịch. Ngươi hãy đi về phương Nam, nhưng chẳng vội thuyết pháp, vì Phật-Pháp khó mở mà phải tùy duyên, hãy nhớ lấy.
MỤC 5: NGÀI HUỆ NĂNG LÁNH NẠN:
Ngũ-Tổ trở về, mấy ngày sau chẳng ra giảng đường, các môn đồ thắc mắc bèn đến thăm và nói:
- Hòa-Thượng có bệnh hay sao mà không thấy ra giảng đường?
Ngũ-Tổ nói:
- Ta chẳng có bệnh chi, nhưng Áo-Bát đã đi phương Nam, vì ta đã truyền Y-Pháp cho Huệ-Năng rồi.
Khi ấy: mọi người mới biết việc Ngũ-Tổ đã truyền Áo-Pháp cho ngài Huệ-Năng.
Trải qua hai tháng, ngài Huệ-Năng đi bộ tới núi Đại-du-Lãnh. Cũng lúc ấy có mấy trăm người vừa Tăng vừa tục đuổi theo Ngài, mong đoạt lấy Áo-Bát.
Có một thầy Tăng tên là Huệ-Minh, ngày trước làm chức Tứ phẩm Tướng quân, làm đầu chúng Tăng-tục, quyết đuổi theo tìm Ngài. Thầy Huệ-Minh đi trước và đuổi kịp, vừa trông thấy có người tới gần, ngài Huệ-Năng để Áo-Bát trên một tảng đá mà nói rằng:
- Áo-Bát này là vật làm tin, há dùng sức mà tranh được sao?
Nói rồi, Ngài ẩn mình trong đám cỏ tranh. Thầy Huệ-Minh vừa thấy ngài Huệ-Năng, vội vàng chạy đến, thấy áo Cà-Sa và Bình-bát ở trên tảng đá. Thầy Huệ-Minh mừng rỡ, liền rảo bước tới lấy Áo-Bát, nhưng không sao nhấc lên được, thật lạ thay?! Thầy Huệ-Minh biết rằng ngài Huệ-Năng đã đắc đạo có thần-thông, nên thầy liền nói lớn lên rằng:
- Hành-giả, Hành-giả, tôi vì Pháp mà đến đây, chứ chẳng phải vì tranh Áo-Bát đâu, xin Hành-giả từ-bi thương xót.
Nghe vậy, ngài Huệ-Năng bước ra khỏi đám cỏ tranh, rồi ngồi trên tảng đá; thầy Huệ-Minh liền làm lễ và nói:
- Mong ơn Hành-giả nói Pháp cho tôi nghe.
Ngài Huệ-Năng nói:
- Ông vì Pháp mà đến đây thì phải dứt hết duyên trần, chớ sinh một niệm tưởng, tôi sẽ nói rõ Phật-Pháp cho ông nghe.
Lẳng lặng một lúc, đợi cho thầy Huệ-Minh thi hành điều vừa nói, ngài Huệ-Năng mới bảo:
- Ông chẳng nghĩ việc lành, không nghĩ điều ác, chính trong thời gian đó, cái ấy, tức là tỏ thấy cái Bản-lai Diện-mục của Thượng-Tọa Minh vậy.
Thượng Tọa Huệ-Minh vừa nghe xong liền rất tỏ sáng, lại hỏi:
- Ngoài các lời nói và ý chỉ mật nhiệm do trên truyền xuống từ xưa tới nay, còn có ý chỉ mật nhiệm nào nữa không?
Ngài Huệ-Năng nói:
- Chỗ tôi nói với ông, đó chẳng phải là mật nhiệm; nếu ông trở soi vào trong, tức hồi quang phản chiếu, thì thấy chỗ mật nhiệm ở bên ông.
- Tôi tuy ở tại Hoàng-Mai với Ngũ-Tổ đã lâu, nhưng chưa hề xét biết cái Bản-lai Diện-mục của mình; nay nhờ sự chỉ dạy của Hành-giả nên đã sáng tỏ, như người uống nước nóng lạnh tự biết tự mình hay. Hành-giả nay tức là Thầy của Huệ-Minh vậy.
Ngài Huệ Năng nói:
- Nếu thế thì tôi cùng ông đồng thờ một Thầy là đức Ngũ-Tổ; ông hãy giữ gìn v nhớ lấy đạo tâm của mình.
Thượng Tọa Huệ Minh lại hỏi:
- Từ nay về sau Huệ-Minh này phải đi xứ nào, xin Hành-giả chỉ bảo cho.
- Ông đến Viên-Châu nên ngừng lại, và gặp núi Mông-Sơn phải ở đó.
Thượng Tọa Huệ-Minh vui mừng phấn khởi, liền làm lễ Ngài rồi từ giã trở lui, xuống tới chân núi nói với người:
- Tôi kiếm các đường trên núi mà chẳng có dấu vết gì cả.
Mọi người liền đi theo đường khác tìm kiếm.
Sau ngài Huệ-Năng về tới làng Tào-Hầu thuộc Tỉnh Thiều-Châu. Lúc ấy có một nhà Nho tên Lưu-chí-Lược tình cờ nghe Ngài nói Phật-Pháp suốt thông nên rất mực cung kính. Chí-Lược có một người cô xuất gia pháp danh là Vô-tận-Tạng thường hay tụng Kinh Đại Niết-Bàn mà nhiều chỗ chưa hiểu.
Ni-Cô Tận-Tạng đến gặp Ngài, xin đọc Kinh Niết Bàn một lần, Ngài nghe qua rồi liền hiểu hết diệu nghĩa của Kinh, mới giải nghĩa cho Ni-Cô nghe. Ni-Cô cầm Kinh hỏi chữ, Ngài nói:
- Hỏi nghĩa thì được, hỏi chữ thì chẳng biết.
Ni-Cô nói:
- Chữ còn chẳng biết, làm sao hiểu nghĩa được?
Ngài trả lời:
- Diệu lý của Chư Phật chẳng dính gì với văn tự.
Trước sự đối đáp và giải thích diệu nghĩa của Ngài, Ni-Cô rất ngạc nhiên và kính phục; Ni-Cô nói với các bậc Kỳ-lão trong thôn làng rằng: “Đây là người có Đạo, rất nên cúng dường”.
Lúc ấy có dòng dõi của Ngụy-Võ-Hầu (là Tào-Tháo) tên Tào-thúc-Lương cùng với dân chúng trong thôn ấp thường tới hỏi đạo. Thời ấy có một ngôi cổ Tự đã bị hư hỏng mọi người bảo nhau sửa chữa lại và mời Ngài ở đó. Tưởng rằng ngài Huệ-Năng dần dần gây dựng đường lối Phật-Pháp.
Nào dè mới được chín tháng, lại có bọn ác nhân tìm đến, Ngài phải vào rừng núi; lại bị bọn ấy đốt cháy núi rừng, Ngài phải ẩn thân nơi kẽ đá thoát nạn. Nay còn dấu vết ngồi trên đá, người đời gọi là đá tị nạn.
Bấy giờ ngài Huệ-Năng nhớ lời Ngũ-Tổ dặn, bèn đến Huyện Tứ-Hội. Tại nơi đây, Ngài ở cùng với những người thợ săn, họ thường bảo Ngài coi giữ lưới, nên khi thấy loài vật lọt vào lưới, Ngài thả ra hết.
Ngài thường gửi rau luộc cùng bên thịt, khi có người hỏi, Ngài nói chỉ ăn rau thôi. Ngài thường vì các người thợ săn tùy duyên nói Phật pháp cho họ nghe… , .
Hình ảnh thêm về Ngài Huệ Năng Đốn Ngộ Lãnh Y Bát Và Ngôi Tổ